– Giá dầu thế giới tiếp tục đi lên trong phiên sáng 10-4 (theo giờ Việt Nam). Hợp đồng dầu WTI tăng gần 4% so với cùng thời điểm hôm qua, lên 98,51 USD/thùng. Dầu Brent tăng hơn 2% lên 96,69 USD/thùng.
– Khép phiên 9-4, thị trường chứng khoán Mỹ đồng loạt tăng điểm. Chỉ số S&P 500 tăng 0,62% lên 6.824,66 điểm, Nasdaq Composite tăng 0,83% lên 22.822,42 điểm.
Dow Jones tăng 275,88 điểm (0,58%) lên 48.185,80 điểm, qua đó chuyển sang tăng 0,25% từ đầu năm 2026.
Đà tăng diễn ra trong bối cảnh Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cho biết Israel đồng ý mở đàm phán trực tiếp với Lebanon.
Ở chiều ngược lại, Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf cáo buộc các cuộc tấn công của Israel vào Lebanon đã vi phạm thỏa thuận ngừng bắn.
– Trong nước, sau phiên tăng mạnh nhờ thông tin tích cực, thị trường quay đầu chịu áp lực điều chỉnh khi VN-Index tiếp cận vùng kháng cự mạnh.
Đầu phiên, chỉ số tăng nhẹ, hướng lên vùng 1.750 điểm – mức cao nhất của phiên giảm sâu ngày 9-3-2026 nhưng nhanh chóng gặp lực bán. Kết phiên, VN-Index giảm 19,87 điểm (-1,13%) xuống 1.736,56 điểm, vẫn giữ trên ngưỡng hỗ trợ tâm lý 1.700 điểm.
Tương tự, VN30 giảm 16 điểm (-0,83%) còn 1.915,01 điểm, duy trì trên vùng hỗ trợ 1.900 điểm.
– Theo Hội Nghiên cứu thị trường liên ngân hàng Việt Nam, trong phiên giao dịch ngày 8-4, thị trường tiền tệ liên ngân hàng ghi nhận diễn biến hạ nhiệt ở mặt bằng lãi suất VND.
Cụ thể, lãi suất bình quân liên ngân hàng bằng VND giảm từ 0,1 – 0,8 điểm phần trăm ở các kỳ hạn ngắn so với phiên trước, trong khi giữ nguyên ở kỳ hạn 1 tháng. Mức giao dịch phổ biến ghi nhận: qua đêm (ON) ở 4,7%/năm, 1 tuần ở 5,9%/năm, 2 tuần ở 6,25%/năm và 1 tháng ở 7,3%/năm.
– Công ty CP Vĩnh Hoàn (VHC) vừa công bố kế hoạch mua lại cổ phiếu quỹ nhằm giảm vốn điều lệ, đồng thời gia tăng lợi ích cho cổ đông hiện hữu. Thời gian dự kiến giao dịch từ ngày 20-4 đến 19-5.
Theo đó, doanh nghiệp đăng ký mua lại 15 triệu cổ phiếu, tương đương 6,7% lượng cổ phiếu đang lưu hành. Giao dịch được thực hiện theo phương thức khớp lệnh.
Giá mua không vượt quá giá tham chiếu cộng thêm 50% biên độ dao động. Khối lượng đặt mua mỗi ngày dự kiến từ 3 – 10% tổng khối lượng đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Nguồn vốn thực hiện đến từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, theo báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ 2025 đã được soát xét, với số dư đạt 6.842 tỉ đồng.
– Công ty CP Nhựa Bình Minh (BMP) vừa công bố tài liệu cho Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, dự kiến tổ chức trực tiếp tại TP.HCM vào ngày 28-4.
Theo tờ trình, doanh nghiệp đặt mục tiêu doanh thu năm 2026 đạt 6.053 tỉ đồng, tăng gần 8% so với năm 2025. Lợi nhuận sau thuế dự kiến 1.278 tỉ đồng, tăng 4% và có thể lập mức cao kỷ lục nếu hoàn thành kế hoạch.
– Trong báo cáo mới công bố, Chứng khoán VNDirect nhận định việc nâng hạng thị trường được kỳ vọng sẽ trở thành cú hích quan trọng, thúc đẩy dòng vốn ngoại quay lại trong thời gian tới.
Theo ước tính, sau khi được FTSE nâng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp, Việt Nam có thể thu hút khoảng 1-1,5 tỉ USD từ các quỹ ETF và quỹ mở theo dõi chỉ số. Tổng dòng vốn ngoại, bao gồm cả các quỹ chủ động, có thể đạt 3,4-6 tỉ USD.
VNDirect cũng cho rằng việc FTSE xác nhận lộ trình nâng hạng sẽ tạo động lực thúc đẩy cải cách thị trường trong chu kỳ phát triển mới. Qua đó mở ra khả năng Việt Nam được MSCI nâng hạng lên thị trường mới nổi trong giai đoạn 2028-2030, với dòng vốn ngoại tiềm năng ước khoảng 2-5 tỉ USD từ các quỹ ETF và quỹ mở theo dõi chỉ số MSCI.
Ngày 9/4, ngân hàng Goldman Sachs cho hay phần bù rủi ro trong giá dầu đã giảm xuống và dòng chảy nhiên liệu qua eo biển Hormuz tăng lên, giúp họ giảm dự báo giá Brent, WTI. Động thái này được đưa ra sau khi Mỹ và Iran giữa tuần này thông báo đồng ý ngừng bắn trong 15 ngày.
Theo Goldman Sachs, giá dầu thô Brent và WTI trung bình quý II năm nay là 90 USD và 87 USD. Các con số này giảm so với dự báo trước đó là 99 USD và 91 USD.
Tuần này, giá dầu Brent đã giảm 11%, nhờ kỳ vọng eo biển Hormuz mở cửa trở lại sau khi Mỹ và Iran công bố ngừng bắn. Tuy nhiên, giá phiên 10/4 tăng trở lại do lo ngại các nước sản xuất dầu tại Trung Đông có thể không khôi phục sản lượng hoàn toàn. Dầu Brent phiên 10/4 tăng 2% lên 98 USD một thùng. Trong khi đó, WTI tăng mạnh hơn, với 2,3%, lên 100 USD. Nhà đầu tư đang ngờ vực về lệnh ngừng bắn và eo biển Hormuz vẫn bị hạn chế.
Hãng thông tấn AFP dẫn dữ liệu theo dõi hàng hải thu thập hôm 9/4 cho biết chỉ có 10 tàu đi qua eo biển Hormuz kể từ khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực ở Trung Đông.
Về tình hình quý III, Goldman giữ nguyên dự báo dầu Brent quanh 82 USD và WTI là 77 USD một thùng. Sang quý IV, các mức giá này tiếp tục giảm về 80 USD và 75 USD.
Dù vậy, Goldman cho rằng rủi ro hiện vẫn nghiêng về giá tăng, do thị trường dầu nhiều khả năng gián đoạn kéo dài. Trong trường hợp kém khả quan hơn, nếu lệnh ngừng bắn không được duy trì và sản xuất dầu tại Trung Đông hụt 2 triệu thùng mỗi ngày trong thời gian dài, giá Brent có thể lên 115 USD vào cuối năm nay.
Cuộc chiến giữa Mỹ - Israel và Iran đã kéo dài hơn một tháng, khiến hơn 3.600 người thiệt mạng. Dòng chảy dầu, khí và các hàng hóa khác qua eo biển Hormuz cũng bị tê liệt. Giá dầu thô đầu tháng trước có thời điểm lên gần 120 USD một thùng - cao nhất 4 năm.
Từ đầu năm đến nay, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng biến động mạnh. Phiên 4/2, lãi suất qua đêm vọt lên 17%, mức cao nhất trong khoảng một thập kỷ. Trong tháng 3, thị trường ghi nhận nhiều phiên lãi suất vượt 10% trước khi hạ nhiệt. Đến đầu tháng 4, lãi suất qua đêm vẫn duy trì quanh 9%.
Khác với lãi suất huy động từ dân cư, đây là lãi suất vay mượn giữa các tổ chức tín dụng, chủ yếu phục vụ nhu cầu bù đắp thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống.
Diễn biến tăng mạnh của lãi suất liên ngân hàng phản ánh áp lực thanh khoản đã bắt đầu gia tăng từ cuối năm ngoái. Sau giai đoạn tín dụng mở rộng nhanh, dư nợ cho vay tại nhiều ngân hàng đã vượt quy mô huy động. Tỷ lệ cho vay trên huy động tại nhiều nhà băng vượt 100% và có xu hướng tăng so với đầu năm 2025.
Điều này khiến một số ngân hàng phải tìm đến vay mượn trên thị trường liên ngân hàng với chi phí cao hơn.
Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán Vietcombank (VCBS), áp lực thanh khoản và cân đối vốn của hệ thống ngân hàng đã gia tăng từ nửa cuối năm 2025, đặc biệt tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần vừa và nhỏ.
"Khi khả năng hấp thụ các cú sốc ngắn hạn suy giảm, các nhà băng này phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn trên thị trường liên ngân hàng, qua đó đẩy mặt bằng lãi suất lên cao", VCBS nhận định.
Bên cạnh đó, dòng tiền trong hệ thống chưa kịp dịch chuyển từ ngân hàng dư thừa sang ngân hàng thiếu hụt cũng khiến tình trạng "nghẽn cục bộ" kéo dài vài tháng, làm gia tăng nhu cầu vay mượn lẫn nhau giữa các tổ chức tín dụng.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Ngoài yếu tố nội tại, chính sách điều hành tỷ giá cũng góp phần tác động tới thanh khoản hệ thống.
Gần đây, Ngân hàng Nhà nước triển khai bán USD kỳ hạn 180 ngày cho các tổ chức tín dụng với mức giá 26.850 đồng mỗi USD nhằm ổn định tỷ giá trong bối cảnh đồng bạc xanh mạnh lên do căng thẳng địa chính trị.
Theo ông Nguyễn Hoàn Niên, chuyên gia phân tích tại Chứng khoán Shinhan, biện pháp này giúp giảm áp lực tỷ giá nhưng đồng thời "giam" một lượng tiền đồng trong hệ thống, khiến thanh khoản co lại và góp phần đẩy lãi suất liên ngân hàng tăng.
Dù vậy, chuyên gia cho rằng lãi suất liên ngân hàng chủ yếu phản ánh những biến động thanh khoản mang tính tức thời. Chỉ khi các biến động này kéo dài và hình thành xu hướng rõ rệt mới có thể đánh giá tác động dài hạn tới mặt bằng lãi suất thị trường.
"Lãi suất vay mượn giữa các ngân hàng phản ánh áp lực thanh khoản nhưng chưa chắc kéo lãi suất tiền gửi tăng theo", ông Niên cho biết.
Thực tế, mối quan hệ giữa lãi suất liên ngân hàng và lãi suất huy động dân cư tại Việt Nam không hoàn toàn tuân theo quy luật một chiều như lý thuyết kinh tế. Trong một số giai đoạn, lãi suất huy động có thể tăng trước rồi mới tác động ngược lại thị trường liên ngân hàng, ông Niên nhận định.
Đặc thù này xuất phát từ cấu trúc hệ thống ngân hàng trong nước, khi thu nhập lãi vẫn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 70-80%, cao hơn nhiều so với mức khoảng 30% ở các ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh đó, sự can thiệp hành chính như áp trần lãi suất hay định hướng điều hành cũng khiến sự liên thông giữa hai thị trường trở nên phức tạp hơn.
Tác động lớn nhất của việc lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh như vừa qua, theo ông Niên, là gây áp lực lên biên lợi nhuận (NIM) của các ngân hàng khi chi phí vốn tăng lên. Điều này buộc một số nhà băng sẽ tìm cách đa dạng hóa nguồn thu, như đẩy mạnh cho vay tiêu dùng hoặc mở rộng các hoạt động đầu tư, dịch vụ.
Theo dự báo của chuyên gia chứng khoán Shinhan, lãi suất liên ngân hàng khó giảm sâu trong thời gian tới, có thể duy trì quanh mức 6,8-7% với kỳ hạn một tháng. Trong khi đó, lãi suất huy động trên thị trường dân cư được dự báo dao động khoảng 7-9% mỗi năm, tùy theo từng ngân hàng.
Trong bối cảnh thanh khoản nghẽn cục bộ và dư địa điều hành bị thu hẹp bởi áp lực tỷ giá, mặt bằng lãi suất được nhận định khó sớm quay lại mức thấp như trước.
Vào lúc 3h sáng ngày 8-4 (giờ Việt Nam), FTSE Russell công bố kết quả rà soát giữa kỳ trong khuôn khổ kỳ đánh giá phân loại thị trường tháng 3-2026.
Theo đó, tổ chức này xác nhận giữ nguyên lộ trình nâng hạng thị trường Việt Nam từ cận biên lên mới nổi thứ cấp.
Việc đưa cổ phiếu Việt Nam vào các rổ chỉ số của FTSE sẽ được triển khai theo 4 giai đoạn, bắt đầu từ ngày 21-9-2026 và hoàn tất vào tháng 9-2027.
Lộ trình được chia ra nhiều giai đoạn nhằm đảm bảo quá trình chuyển đổi diễn ra trật tự, kiểm soát dòng vốn dự kiến và duy trì thanh khoản thị trường, đồng thời hỗ trợ cơ chế không yêu cầu ký quỹ trước giao dịch (non-prefunding).
Cụ thể, trong giai đoạn đầu từ tháng 9-2026, tỉ trọng cổ phiếu Việt Nam được thêm vào ở mức 10%. Tỉ trọng này sẽ tiếp tục tăng thêm 20% vào tháng 3-2027, 35% vào tháng 6-2027 và hoàn tất với phần bổ sung 35% còn lại vào tháng 9-2027.
Như vậy, tổng tỉ trọng được đưa vào sẽ đạt 100% sau bốn giai đoạn, với hệ số phân bổ tăng dần từ 10%, 30%, 65% và hoàn tất đủ vào cuối kỳ.
Trong tài liệu công bố, FTSE Russell cũng đưa ra danh sách 32 cổ phiếu Việt Nam mang tính tham khảo, đã đáp ứng các tiêu chí sàng lọc của bộ chỉ số FTSE Global All Cap, dựa trên dữ liệu đến cuối ngày 31-12-2025.
Tuy nhiên, tổ chức này nhấn mạnh: danh sách cuối cùng các cổ phiếu Việt Nam đủ điều kiện để được đưa vào các chỉ số FTSE Russell liên quan trong kỳ rà soát bán niên tháng 9-2026 sẽ được công bố vào thứ Sáu, ngày 21-8-2026.
Đồng thời sẽ được sàng lọc dựa trên việc các cổ phiếu Việt Nam được coi là không phải là thành phần của FTSE GEIS và các chỉ số liên quan.
Danh sách đính kèm dự kiến này bao gồm các doanh nghiệp niêm yết thuộc nhiều nhóm ngành và quy mô vốn hóa.
Trong đó, nhóm vốn hóa lớn có các đại diện tiêu biểu như Tập đoàn Hòa Phát (HPG), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BID), Vinhomes (VHM) và Tập đoàn Vingroup (VIC).
Nhóm vốn hóa trung bình gồm Tập đoàn Masan (MSN), Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (SAB), FPT (FPT) và Công ty CP Sữa Việt Nam (VNM).
Trong khi đó, nhóm vốn hóa nhỏ chiếm số lượng lớn nhất, với nhiều doanh nghiệp quen thuộc như Chứng khoán SSI (SSI), Đạm Phú Mỹ (DPM), Kinh Bắc (KBC), Tasco (HUT), Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), DIC Corp (DIG),
Eximbank (EIB), Đất Xanh (DXG), Khang Điền (KDH), Chứng khoán VIX (VIX), Chứng khoán VNDirect (VND), Phát Đạt (PDR), Hóa chất Đức Giang (DGC),
Novaland (NVL), Vietjet Air (VJC), Chứng khoán Bản Việt (VCI), Vincom Retail (VRE), Thiết bị điện Việt Nam (GEX), FPT Retail (FRT), GELEX Electric (GEE), Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR), Kinh Đô (KDC) và Sacombank (STB).