Sau đợt thanh tra lần thứ 5 của Ủy ban châu Âu (EC), tỉnh An Giang xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm là khắc phục triệt để các tồn tại, hạn chế trong khai thác thủy sản theo khuyến nghị quốc tế. Theo ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, tỉnh đang tập trung cao độ vào 4 nhóm giải pháp then chốt gồm: hoàn thiện khung pháp lý; quản lý, giám sát hoạt động tàu cá; truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác; tăng cường thực thi pháp luật, xử lý vi phạm.
Các kế hoạch hành động được xây dựng cụ thể, phân công rõ trách nhiệm từng sở, ngành, kèm lộ trình và thời hạn thực hiện. Tỉnh đã thành lập tổ công tác liên ngành gồm lực lượng thanh tra, công an, bộ đội biên phòng và các đơn vị chuyên môn để phối hợp kiểm soát, xử lý vi phạm một cách hiệu quả, đồng bộ.
Một trong những điểm sáng của An Giang là việc chấm dứt hoàn toàn tình trạng tàu cá “3 không” (không đăng ký, không đăng kiểm, không giấy phép), vốn được xem là “lỗ hổng” lớn trong quản lý nghề cá suốt thời gian dài.
Hiện nay, 100% tàu cá của tỉnh đã được cập nhật vào hệ thống dữ liệu quốc gia Vnfishbase với tổng số 10.878 chiếc. Đặc biệt, toàn bộ tàu cá đủ điều kiện khai thác đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS), đáp ứng quy định của luật Thủy sản 2017. Trong đó, 3.577/3.586 tàu cá có chiều dài từ 15m trở lên đã hoàn tất lắp đặt VMS; 9 tàu còn lại không hoạt động được quản lý tại địa phương.
Song song đó, tỉnh tăng cường rà soát nhóm tàu từ 12 m đến dưới 15 m, yêu cầu chủ tàu thực hiện đầy đủ việc sơn, đánh dấu, ghi số hiệu theo quy định, đồng thời theo dõi sát các tàu có nguy cơ vi phạm vùng biển nước ngoài.
Đối với 645 tàu cá không đủ điều kiện hoạt động (do hết hạn giấy phép, đăng kiểm…), địa phương quản lý chặt chẽ vị trí neo đậu, không cho ra khơi; đồng thời hoàn tất các thủ tục pháp lý như cấp phép lại, xóa đăng ký hoặc xử lý theo quy định.
Không chỉ quản lý khâu khai thác, An Giang còn kiểm soát nghiêm ngặt toàn bộ chuỗi giá trị thủy sản. Từ thu mua, chế biến đến doanh nghiệp xuất khẩu đều đặt trong “vòng giám sát”. Các doanh nghiệp chế biến, đặc biệt là đơn vị xuất khẩu sang thị trường châu Âu, được kiểm tra thường xuyên nhằm đảm bảo không có “kẽ hở” cho sản phẩm khai thác bất hợp pháp lọt vào chuỗi cung ứng.
Việc truy xuất nguồn gốc được thực hiện chặt chẽ thông qua hệ thống điện tử, yêu cầu chủ tàu, thuyền trưởng bắt buộc khai báo tàu ra vào cảng, ghi nhật ký khai thác và nhật ký thu mua, chuyển tải trên nền tảng eCDT.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, việc siết nguồn gốc như trên tuy ban đầu có gây khó khăn cho ngư dân và doanh nghiệp, nhưng về lâu dài sẽ giúp nâng cao uy tín và giá trị sản phẩm thủy sản Việt Nam. Do đó, công tác tuyên truyền được đẩy mạnh với nhiều hình thức đa dạng, giúp ngư dân và doanh nghiệp hiểu rõ và tuân thủ quy định về chống khai thác IUU một cách thực chất, không đối phó.
Song song với quản lý, công tác thực thi pháp luật được An Giang đẩy mạnh với tinh thần “không khoan nhượng”. Những hành vi vi phạm như khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài, tắt thiết bị giám sát hành trình, vượt ranh giới… đều bị xử lý nghiêm.
Cùng với việc tập trung xử lý trước mắt, An Giang còn hướng tới giải pháp lâu dài thông qua đề án chuyển đổi nghề cho hàng ngàn ngư dân. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm giảm áp lực khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và tạo sinh kế bền vững.
Hiện, toàn tỉnh có 645 tàu cá nằm bờ do không đủ điều kiện hoạt động, chủ yếu do hết hạn giấy phép hoặc không đáp ứng yêu cầu đăng kiểm. Để giải quyết bài toán này, An Giang đang xây dựng đề án chuyển đổi nghề cho ngư dân, hướng đến giảm áp lực khai thác và tạo sinh kế bền vững hơn. Các mô hình như nuôi trồng thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá, hoặc chuyển sang ngành nghề khác đang được nghiên cứu triển khai.
Với những nỗ lực quyết liệt, bài bản và đồng bộ, An Giang đang từng bước khẳng định vai trò, trách nhiệm trong hành trình cùng cả nước gỡ bỏ “thẻ vàng” IUU, nâng cao uy tín thủy sản trên thị trường quốc tế, hướng tới ngành khai thác thủy sản hiện đại, bền vững và có trách nhiệm.
Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 13/2026 quy định lộ trình áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Thời điểm bắt đầu kiểm định khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông là từ ngày 1/7/2027 đối với Hà Nội và TP HCM; từ 1/7/2028 đối với các thành phố trực thuộc trung ương còn lại gồm Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ.
Từ 1/7/2030, việc kiểm định được áp dụng với 28 tỉnh. Tùy theo tình hình thực tế, các tỉnh này có thể áp dụng sớm hơn.
Quyết định nêu rõ xe môtô (dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên) sản xuất hoặc nhập khẩu trước năm 2008 áp dụng mức 1 - giá trị giới hạn tối đa cho phép của khí thải theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Xe môtô sản xuất hoặc nhập khẩu từ năm 2008 đến hết năm 2016, áp dụng mức 2; xe môtô sản xuất hoặc nhập khẩu từ năm 2017 đến ngày 30/6/2026 áp dụng mức 3; xe môtô sản xuất hoặc nhập khẩu từ ngày 1/7/2026, áp dụng mức 4.
Xe gắn máy (dung tích xi lanh dưới 50 cm3) sản xuất hoặc nhập khẩu trước năm 2016 áp dụng mức 1; xe gắn máy sản xuất hoặc nhập khẩu từ năm 2017 đến ngày 30/6/2027 áp dụng mức 2; xe gắn máy sản xuất hoặc nhập khẩu từ ngày 1/7/2027 áp dụng mức 4.
Từ 1/1/2028, xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông tại Hà Nội và TP HCM phải đáp ứng quy định về khí thải mức 2 trở lên.
Xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông vào vùng phát thải thấp của TP Hà Nội theo quy định của Luật Thủ đô phải đáp ứng quy định về khí thải theo Nghị quyết của HĐND thành phố.
Cả nước hiện có hơn 74,3 triệu xe máy. Để kiểm định khí thải với số xe này, Cục Đăng kiểm Việt Nam cho biết cần hơn 5.000 cơ sở thực hiện, tức cần hơn 5.000 bộ thiết bị đo khí thải, hơn 5.000 đăng kiểm viên cho công tác này. Phần lớn cơ sở kiểm định sẽ được đầu tư, tận dụng từ các đơn vị bảo dưỡng xe máy của doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam.
Theo Thông tư 92/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ bao gồm 4 mức giá trị cho phép đối với từng thông số hydrocacbon (HC), cacbon monoxit (CO) trong khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ.
Giá trị giới hạn tối đa cho phép của các thông số CO, HC trong khí thải xe môtô, xe gắn máy lắp động cơ cháy cưỡng bức tham gia giao thông đường bộ được quy định trong bảng sau:
Thanh tra Chính phủ vừa ban hành thông báo kết luận thanh tra việc chấp hành quy định pháp luật trong công tác quản lý sử dụng đất đai và quy hoạch xây dựng, cấp phép xây dựng trên địa bàn TP.Hà Nội.
Một trong những nội dung đáng chú ý là về quy hoạch, quản lý, sử dụng quỹ đất 20% làm nhà ở xã hội (NOXH).
Thanh tra Chính phủ xác định, Hà Nội là nơi tập trung nhiều người lao động thu nhập thấp, có nhu cầu cao về NOXH, nhưng việc quy hoạch và quản lý, sử dụng quỹ đất 20% làm NOXH vẫn còn thiếu sót, vi phạm.
Giai đoạn từ 2011 - 2022, có 8 dự án khu đô thị, nhà ở có quy mô 10 ha trở lên, UBND thành phố khi phê duyệt quy hoạch đã không dành quỹ đất 20% để phát triển NOXH.
4 dự án được Thủ tướng chấp thuận cho phép nộp bằng tiền tương đương giá trị quỹ đất 20% và phải bố trí đủ quỹ đất xây dựng NOXH ở địa điểm khác nhưng đến thời điểm thanh tra, thành phố chưa thực hiện.
3 dự án có quy mô từ 10 ha trở lên bố trí không đủ quỹ đất để xây dựng NOXH theo quy định.
Tại dự án khu nhà ở sinh thái Xuân Phương, cơ quan thanh tra nhận thấy UBND TP.Hà Nội bố trí 6.890 m² đất thuộc các ô đất BT6 và BT11 có chức năng sử dụng đất là nhà biệt thự sinh thái để phát triển NOXH là thiếu khả thi, không phù hợp nhu cầu của đối tượng thu nhập thấp.
Tại dự án nhà ở thương mại xây dựng nhà ở phục vụ cho cán bộ cấp thứ trưởng và tương đương đang đương chức công tác tại các cơ quan của Quốc hội, thành phố chấp thuận đầu tư phù hợp quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 khu đô thị mới Xuân Phương, nhưng đến năm 2014 lại điều chỉnh quy hoạch chi tiết, đưa dự án vào quỹ đất 20% để phát triển NOXH là không đúng mục tiêu đầu tư dự án, quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt.
Kết quả thanh tra còn cho thấy, từ năm 2011 đến trước 13.8.2019, thành phố chưa theo dõi riêng việc quản lý, sử dụng số tiền tương đương với giá trị quỹ đất 20% phát triển NOXH; chưa có hướng dẫn, quản lý, đôn đốc các chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ nộp số tiền tương đương với giá trị quỹ đất 20% bổ sung vào ngân sách địa phương dành để đầu tư xây dựng NOXH…
Thành phố cũng chưa đầu tư xây dựng NOXH bằng nguồn vốn ngân sách đối với 10 dự án đã được bố trí quỹ đất (để đáp ứng nhu cầu về NOXH của người dân trên địa bàn), trong khi nguồn thu tương đương với giá trị quỹ đất 20% từ các dự án đã thu được là rất lớn, gây lãng phí đất đai.
Từ kết luận đã nêu, Thanh tra Chính phủ kiến nghị Hà Nội bố trí đủ quỹ đất để xây dựng NOXH trong năm 2026 đối với 15 dự án đã nêu.
Đồng thời, đôn đốc, yêu cầu chủ đầu tư các dự án nhà ở thương mại, khu đô thị khẩn trương triển khai đầu tư xây dựng NOXH trên quỹ đất 20% theo tiến độ đã được phê duyệt; trường hợp chủ đầu tư không thực hiện thì xử lý theo quy định để lựa chọn chủ đầu tư khác thực hiện hoặc để đầu tư xây dựng NOXH bằng nguồn vốn ngân sách từ khoản thu bằng tiền tương đương giá trị quỹ đất 20%.
Thành phố cũng cần rà soát, bổ sung quy hoạch đô thị, quy hoạch khu công nghiệp..., bảo đảm dành đủ quỹ đất phát triển NOXH; triển khai các dự án đầu tư xây dựng NOXH bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước đối với quỹ đất 20% đã được chủ đầu tư bàn giao cho trung tâm phát triển quỹ đất thành phố để đáp ứng nhu cầu và bảo đảm an sinh xã hội cho người thu nhập thấp.
Cần có cơ chế, giải pháp để rút ngắn các thủ tục hành chính liên quan để hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư, chủ đầu tư triển khai đầu tư xây dựng, tạo nguồn cung cho thị trường và tận dụng được nguồn vốn ưu đãi phát triển NOXH.
Đối với khu nhà ở sinh thái Xuân Phương, cơ quan thanh tra kiến nghị rà soát, xử lý, bố trí đủ quỹ đất để xây dựng NOXH cho dự án thay thế ở địa điểm khác hoặc thu hồi quỹ đất 20% NOXH của chủ đầu tư để xây dựng NOXH tại dự án trong trường hợp dự án vẫn còn quỹ đất.
Riêng với dự án nhà ở thương mại xây dựng nhà ở phục vụ cho cán bộ cấp thứ trưởng và tương đương, cần rà soát, điều chỉnh theo đúng mục tiêu dự án, quy hoạch chi tiết trước đó đã được chấp thuận, phê duyệt.
Chiều 10.4, trao đổi với PV Thanh Niên, lãnh đạo Công ty cổ phần phát triển đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu (BVEC - chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng mở rộng quốc lộ 51) xác nhận đã đồng ý bàn giao toàn bộ hiện trạng các trạm thu phí T1, T2 trên quốc lộ 51 cho cơ quan chức năng để thực hiện tháo dỡ, đảm bảo an toàn giao thông.
Theo đó, BVEC sẽ bàn giao toàn bộ hiện trạng 2 trạm thu phí cho Khu Quản lý đường bộ IV và Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai trước ngày 15.4.
Sở Xây dựng sẽ tổ chức tháo dỡ, sau đó bàn giao toàn bộ vật tư, thiết bị cho Khu Quản lý đường bộ IV quản lý, bảo quản theo quy định.
Trước đó, Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai đã nhiều lần đề nghị Cục Đường bộ Việt Nam, Khu Quản lý đường bộ IV cùng BVEC tháo dỡ 2 trạm thu phí trên quốc lộ 51, thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai.
Theo Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai, trạm thu phí T1 và T2 không còn chức năng khai thác nhưng vẫn tồn tại kết cấu nhà trạm, đảo phân luồng, móng trụ, biển báo và các hạng mục phụ trợ.
Sự tồn tại của trạm thu phí không còn tác dụng trên gây ra các xung đột về giao thông, che khuất tầm nhìn, thu hẹp mặt đường hiện hữu và tiềm ẩn nguy cơ rất cao xảy ra tai nạn giao thông.
Quốc lộ 51 dài 72 km, đi qua địa bàn 2 tỉnh Đồng Nai và TP.HCM (trước là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Sau khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng mở rộng quốc lộ 51, BVEC đã đặt 3 trạm thu phí BOT gồm T1, T2 (địa bàn Đồng Nai), T3 (thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, nay là TP.HCM).
Từ năm 2023, dự án BOT quốc lộ 51 tạm dừng thu phí để tính toán lại phương án tài chính, nhưng việc tháo dỡ các trạm thu phí vẫn vướng mắc xung quanh việc đàm phán chấm dứt hợp đồng và xác lập sở hữu toàn dân. Chủ đầu tư cho rằng các trạm thu phí đang là tài sản của ngân hàng nên việc tháo dỡ phải phải có sự đồng ý bằng văn bản của ngân hàng.
Đối với trạm thu phí T3, vào đầu tháng 2.2026, Sở Xây dựng TP.HCM đã phối hợp các đơn vị, lực lượng chức năng liên quan tháo dỡ.