Bên ngoài khu trượt tuyết băng đồng tại thị trấn miền núi Tesero, Bắc Italy thuộc dãy Dolomite cuối tháng 2, những lá cờ Na Uy được treo phủ khắp các lan can, rực rỡ như trong một ngày quốc lễ. Người hâm mộ từ quốc gia Bắc Âu này đã dựng trại gần đó và lập một bảng tổng kết trực tiếp số huy chương mà các VĐV của họ giành được tại Olympic mùa Đông Milan-Cortina 2026. Sau mỗi chiến thắng, một nhãn dán vàng lại được trang trọng dán lên bảng.
Và bảng dán ấy liên tục được lấp đầy.
Giai điệu “Ja, vi elsker dette landet” (Vâng, chúng ta yêu đất nước này) đã vang lên kiêu hãnh 18 lần tại các địa điểm thi đấu từ Milan, Livigno đến Predazzo, Anterselva và Tesero. Tổng cộng, Na Uy giành 18 HC vàng – kỷ lục ở một kỳ Thế vận hội mùa Đông, cùng 12 HC bạc và 11 HC đồng. Với 41 huy chương các loại, quốc gia Bắc Âu cũng tự tay xô đổ kỷ lục do chính họ thiết lập ở PyeongChang 2018 (39 huy chương).
Tính từ kỳ Olympic mùa Đông đầu tiên năm 1924, Na Uy đã tích lũy được kho tàng đồ sộ gồm 445 huy chương, trong đó có 166 HC vàng, bỏ xa đối thủ bám đuổi là Mỹ (362 huy chương), đanh thép chứng minh trước cả thế giới rằng “xứ sở của những vịnh hẹp” vẫn là một siêu cường trên tuyết tại sự kiện thể thao mùa đông lớn nhất hành tinh.
Vậy, điều gì giúp một quốc gia với dân số khoảng 5,6 triệu người, tương đương với bang South Carolina của Mỹ, liên tục đánh bại các cường quốc như Trung Quốc (1,4 tỷ dân), Mỹ (342 triệu), Đức (84 triệu), Italy (59 triệu) và Canada (40 triệu)?
Cựu VĐV Katerina Neumannova, nhà vô địch Olympic người CH Czech, chỉ ra rằng cấu trúc tổ chức chính là nền tảng thành công của Na Uy. Ví dụ, trượt tuyết băng đồng là một trong những môn thể thao phổ biến nhất tại quốc gia thuộc bán đảo Scandinavian, với mạng lưới hàng trăm CLB và lượng lớn trẻ em tham gia tập luyện từ khi còn rất nhỏ.
“Khi có sự tham gia của đông đảo trẻ em, HLV và các CLB trên khắp đất nước, việc tìm kiếm tài năng trở nên dễ dàng hơn nhiều”, Neumannova chia sẻ với hãng tin AP. Bà cũng nhận định thêm rằng Na Uy đã hưởng lợi từ việc tuyển Nga bị cấm thi đấu, cũng như việc sở hữu đội ngũ chuyên gia hỗ trợ VĐV tài năng, và thậm chí là tình trạng thiếu tuyết ở các nước thuộc vĩ độ thấp tại lục địa châu Âu.
Đồng thời, bà khẳng định phong trào thể thao quần chúng sâu rộng đã tạo ra nguồn cung VĐV ưu tú ổn định. “Các quốc gia khác thường gặp vấn đề về khoảng trống giữa các thế hệ, nhưng tuyển Na Uy lại rất ổn định”, Neumannova nói. “Khi một VĐV giải nghệ, các tài năng trẻ đã sẵn sàng tiếp bước, như tre già măng mọc”.
Finn Dahl, một CĐV nhiệt thành từng làm công tác tiếp thị cho Olympic Lillehammer 1994 tại quê nhà, lý giải thành công của đất nước mình thông qua lối sống gắn liền với tuyết. Ông cho biết trẻ em Na Uy thường cùng gia đình đi nghỉ tại vùng núi, nơi trượt tuyết đơn giản là phương thức di chuyển thông thường. “Đó là cách di chuyển tự nhiên để đi từ ngôi nhà gỗ này sang ngôi nhà gỗ khác”, ông Dahl nói với AP. “Là một dạng tinh thần, nó đã nằm sẵn trong máu của mỗi người dân chúng tôi”.
Klaebo, người từng mơ ước trở thành cầu thủ bóng đá thời niên thiếu, nhớ lại việc anh nhận được đôi ván trượt đầu tiên vào dịp Giáng sinh khi mới hai tuổi từ người ông, mà sau này trở thành HLV của chính anh. “Ở Na Uy, người ta bảo rằng để trở thành một người đàn ông thực thụ, bạn phải thắng ở cự ly 50 km”, anh hóm hỉnh chia sẻ.
Trong khi đó, đồng đội của Klaebo trong cuộc đua chung kết nội dung tiếp sức đồng đội nam môn trượt tuyết băng đồng ở Olympic 2026 là Einar Hedegart, tân binh Olympic ở tuổi 24, cùng giành HC vàng ở nội dung tiếp sức relay trước đó và đoạt HC đồng ở nội dung 10 km xuất phát cách quãng.
Phần lớn ưu thế của Na Uy bắt nguồn từ truyền thống là “cái nôi” của các môn trượt tuyết Bắc Âu. Tuy nhiên, chỉ dựa vào hai môn thế mạnh là không đủ để Na Uy vượt qua Mỹ, quốc gia đứng thứ hai chung cuộc với 33 huy chương, trong đó có 12 vàng.
Tại kỳ Thế vận hội 2026, Na Uy còn tỏa sáng ở nhiều nội dung khác, như nhảy xa trên tuyết (5 huy chương), trượt băng tốc độ (4), trượt tuyết phối hợp Bắc Âu (3), trượt tuyết đổ đèo (2), slopestyle (1) và big air (1). Những cái tên như Jens Luraas Oftebro (3 HC vàng trượt tuyết phối hợp Bắc Âu), VĐV nhảy xa trên tuyết Anna Odine Stroem thống trị cả hai nội dung đồi thường (normal hill) và đồi lớn (large hill), hay Brik Ruud và Henrik Kristoffersen đã trở thành những bảo chứng cho thành công.
Sự thống trị của Na Uy còn đến từ chiến lược tập trung nguồn lực hiệu quả. Họ tránh dàn trải vào các môn thể thao tự đánh giá là ít cơ hội cạnh tranh như xe trượt lòng máng, trượt băng nằm ngửa hay trượt băng nghệ thuật, vốn đòi hỏi đầu tư khổng lồ để đối đầu với tính chuyên nghiệp của người Mỹ hay kinh nghiệm dày dạn của người Đức.
Một quốc gia nhỏ bé không thể lãng phí những VĐV mà tài năng có thể chỉ thực sự bộc lộ ở độ tuổi cuối thanh thiếu niên. Các HLV ở Na Uy không có xu hướng nhầm lẫn giữa những đứa trẻ “nở sớm” với những tài năng thực thụ. “Tôi nhận thấy nhiều hệ thống thể thao lớn thường mải mê với việc loại bỏ người chơi ở độ tuổi trẻ, hơn là phát triển họ”, Giám đốc Thể thao Thành tích cao và Trưởng đoàn Na Uy ở Olympic 2026 Tore Ovebro giải thích với CNN Sports. “Tại sao tôi nói vậy? Tất cả nằm ở khâu tuyển chọn, mà tuyển chọn thực chất là một cách khác để loại bỏ con người. Chúng tôi có ít người, nên chúng tôi phải chăm sóc tất cả mọi người”.
Hệ thống đào tạo thể thao ở Na Uy không cố gắng xác định tài năng thật nhanh rồi “ép chín” VĐV để đạt thành công tức thì. Thay vào đó, nó tạo điều kiện để họ tự tìm ra con đường của riêng mình, đảm bảo rằng khi họ sẵn sàng bước vào chương trình chuyên nghiệp, họ sẽ phát huy tối đa tiềm năng. Trường hợp của Klaebo là ví dụ, khi anh nhận ra tiềm năng thực sự của mình nằm ở môn thể thao trên tuyết thay vì trên sân cỏ.
“Khi thử sức ở nhiều môn thể thao, bạn cũng tiếp xúc với những nền văn hóa khác nhau, nghĩa là bạn phát triển kỹ năng xã hội để làm việc với nhiều kiểu người”, ông Ovebro nói tiếp. “Đó là một nền tảng học hỏi rộng mở. Khi sở hữu những đứa trẻ như vậy, việc xây dựng một văn hóa hiệu suất cao sẽ dễ dàng hơn, tức chúng biết mình là ai và mình muốn gì. Chúng tôi muốn lũ trẻ cảm thấy rằng chúng tham gia thể thao là vì chính bản thân mình”.
Với dân số thấp, Na Uy ưu tiên tối ưu hóa những gì đang có, dựa trên một tinh thần thể thao cộng đồng và thị trường đồ thể thao cũ cực kỳ phát triển. Xã hội quốc gia này đề cao tính bình đẳng, nơi của cải và nguồn lực được phân bổ đồng đều. Ở đó, không có rào cản nào trong việc tiếp cận thể thao, không ai bị gạt ra ngoài chỉ vì gánh nặng tài chính.
“Chúng tôi chia sẻ nguồn lực để mọi trẻ em đều có thể chơi thể thao và cha mẹ có thể hỗ trợ chúng”, ông Ovebro nói với Reuters. “Chúng tôi cố gắng không đặt nặng vấn đề thắng thua quá sớm ở lứa tuổi nhỏ. Mục tiêu không phải là tạo ra những kẻ thất bại, mà là nuôi dưỡng những nhà vô địch trẻ tuổi. Chiến thắng thực sự là được tham gia và tìm thấy niềm vui. Thể thao ở Na Uy là để hướng tới một cuộc sống trọn vẹn”.
Tác giả Brad Stulberg, người vừa xuất bản cuốn sách The Way of Excellence (Đường tới sự ưu tú), thán phục trước mô hình của Na Uy, đặc biệt khi ông so sánh với trải nghiệm cá nhân là một phụ huynh và HLV tại Mỹ. “Tôi nghĩ người Mỹ có thể học hỏi rất nhiều từ mô hình Na Uy, nhất là việc ưu tiên sự vui vẻ và tinh thần tham gia hơn là thành tích thắng thua”, ông chia sẻ với CNN Sports. “Dữ liệu đã chứng minh rất rõ ràng lý do số một khiến trẻ em bỏ thể thao là vì chúng không còn thấy vui nữa. Lý do thứ hai là áp lực quá lớn”.
Khi Stulberg nêu bật những nguyên nhân dẫn đến thành công của Na Uy trong một bài đăng trên Instagram, ông cho biết một số phản hồi dưới phần bình luận tỏ ra khá gay gắt.
“Rất nhiều người Mỹ cảm thấy bị xúc phạm nặng nề bởi tư tưởng này”, ông giải thích. “Đó thường là những bậc phụ huynh cực đoan, những người cảm thấy bị ‘nhột’ vì chính họ là người đang đứng trên đường biên và gào thét vào mặt trọng tài trong một trận bóng chày của những đứa trẻ 8 tuổi. Điều đó thật phi lý. Cha mẹ cần phải đặt trẻ em lên hàng đầu. Nhiệm vụ của chúng ta là giữ cho thể thao luôn vui vẻ, giải tỏa áp lực và nuôi dưỡng tình yêu vận động. Có như vậy, các em mới gắn bó lâu dài với thể thao và đủ sức cạnh tranh khi trưởng thành”.
Số liệu thống kê nói lên tất cả. Đến năm 25 tuổi, có tới 93% dân số Na Uy từng tham gia một loại hình thể thao có tổ chức nào đó. Ngược lại, Học viện Nhi khoa Mỹ báo cáo vào năm 2024 rằng 70% VĐV nhí tại nước này bỏ cuộc trước tuổi 13, với nguyên nhân chính là chấn thương và kiệt sức. Bản báo cáo cũng nhấn mạnh: “Việc trẻ em bỏ bê thể thao là một trong những nguyên nhân khiến hơn 75% thanh thiếu niên tại Mỹ không đáp ứng được các khuyến nghị về hoạt động thể chất”.
Ngoài ra, tại Na Uy, triết lý “nước lên thì thuyền lên” được áp dụng triệt để. Dù là VĐV hay các chương trình đào tạo, họ luôn ưu tiên hợp tác với nhau lâu nhất có thể và chỉ đối đầu khi thực sự bắt buộc.
Giáo sư Tâm lý học và Bóng đá Geir Jordet tại Trường Khoa học Thể thao Na Uy ở Oslo, trả lời phỏng vấn trên CNN Sports rằng thành công thể thao của đất nước ông có thể tóm gọn trong ba từ: “Hợp tác, kết nối và quan tâm.”
Một khi các VĐV tiềm năng được xác định, họ sẽ được hỗ trợ để phát triển tối đa năng lực thông qua các chương trình ứng dụng kiến thức khoa học, công nghệ tiên tiến nhất, bao gồm cả tâm lý học thực tiễn.
“Trung tâm Thể thao Olympic hàng đầu chỉ cách Đại học Thể thao nơi tôi đang ngồi có 10 m”, ông Jordet nói, nhấn mạnh rằng quy mô nhỏ của Na Uy lại là lợi thế giúp thúc đẩy sự hợp tác trong cộng đồng thể thao đỉnh cao. “Na Uy có văn hóa sẻ chia rất mạnh mẽ giữa các môn thể thao, cũng như từ giới học thuật, khoa học sang thực tiễn thi đấu. Mọi thông tin kiến thức được truyền tải rất trực tiếp và nhanh chóng. Mọi cá nhân từ các bộ môn khác nhau cùng đến trung tâm đó, gặp gỡ, tập luyện, trao đổi và học hỏi lẫn nhau”.
Hoàng Thông tổng hợp
Tin Gốc: https://vnexpress.net/vi-sao-na-uy-thong-tri-tuyet-doi-o-olympic-mua-dong-5047018.html






