Gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) là tình trạng tích tụ mỡ trong gan, liên quan chặt chẽ đến béo phì, tiểu đường và rối loạn mỡ máu. Thực hành một vài thay đổi lối sống có thể giúp cải thiện giúp chức năng gan và giảm nguy cơ biến chứng.
Giảm cân hợp lý
Giảm cân là yếu tố quan trọng nhất trong kiểm soát gan nhiễm mỡ, đặc biệt ở người béo phì, thừa cân. Tuy nhiên, nên giảm cân từ từ, tránh ăn kiêng quá khắt khe vì có thể gây tác dụng ngược. Duy trì chế độ ăn cân bằng và bền vững là cách lâu dài.
Ưu tiên chế độ ăn lành mạnh
Chế độ ăn kiểu Địa Trung Hải có thể góp phần giảm mỡ gan. Theo chế độ ăn này, người bệnh nên tăng cường rau (bông cải xanh, rau lá xanh) trái cây (táo, cam, chuối), ngũ cốc nguyên hạt và chất béo tốt như dầu ô liu.
Ăn cá (ít nhất 2 lần/tuần), gia cầm không da và trứng tiêu thụ với lượng vừa phải. Hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và tinh bột tinh chế. Cách ăn này không chỉ tốt cho gan mà còn hỗ trợ kiểm soát huyết áp cao và tiểu đường.
Ngoài áp dụng chế độ ăn Địa Trung Hải, một số gia vị và thảo mộc quen thuộc như nghệ, gừng, tỏi, trà xanh và cây kế sữa cũng có lợi cho sức khỏe gan.
Uống cà phê đúng cách
Cà phê có thể giúp giảm viêm và bảo vệ gan nhờ kích thích enzyme có lợi. Người bị gan nhiễm mỡ có thể uống khoảng 2-3 tách mỗi ngày. Ưu tiên uống cà phê đen, hạn chế đường và kem béo để tránh làm tăng năng lượng dư thừa.
Duy trì vận động
Ít vận động là yếu tố làm trầm trọng thêm tình trạng gan nhiễm mỡ. Mỗi người nên đặt mục tiêu ít nhất 150 phút vận động mỗi tuần. Các hoạt động đơn giản như đi bộ nhanh, đạp xe hoặc leo cầu thang cũng mang lại lợi ích rõ rệt nếu duy trì đều đặn.
Hạn chế tối đa đường
Đường bổ sung, đặc biệt fructose, thúc đẩy tích tụ mỡ trong gan. Chúng có nhiều trong nước ngọt, bánh kẹo, đồ uống đóng chai và thực phẩm chế biến sẵn. Đọc nhãn thực phẩm trước khi dùng cũng giúp bạn kiểm soát lượng đường nạp vào mỗi ngày.
Cholesterol cao làm tình trạng gan nhiễm mỡ nghiêm trọng hơn. Người bệnh nên hạn chế chất béo bão hòa (thịt đỏ, sữa béo) và chất béo chuyển hóa. Kết hợp ăn uống lành mạnh, tập luyện để cải thiện mỡ máu hiệu quả.
Tránh các tác nhân gây hại cho gan
Để gan có cơ hội phục hồi, bạn cần hạn chế các tác nhân gây hại trực tiếp. Rượu dù dùng ở mức vừa phải vẫn có thể làm gan nhiễm mỡ tiến triển nặng hơn. Ngoài ra, một số thuốc không kê đơn và thực phẩm chức năng có thể gây độc cho gan nếu sử dụng không đúng cách. Vì vậy, nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi dùng để tránh làm tổn thương gan thêm.
Nam bệnh nhân chia sẻ có biểu hiện sau quan hệ tình dục không an toàn với bạn tình là nữ trước đó 2 tuần, sau đó xuất hiện tổn thương vết trợt quanh da vùng quy đầu, ở nhà ngâm lá trầu không, thuốc bôi không rõ mua tại hiệu thuốc tổn thương dát đỏ, trợt lan rộng hơn.
Sau 1 tháng, bệnh nhân bắt đầu xuất hiện dịch mủ ở vùng tổn thương kèm ngứa rát nhẹ. Trong suốt quá trình diễn biến bệnh, bệnh nhân không có tổn thương da, không sốt, không tiểu buốt tiểu rắt.
Qua thăm khám và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng, bác sĩ Dương Thị Thúy Quỳnh - khoa điều trị bệnh da nam giới Bệnh viện Da liễu trung ương - chẩn đoán bệnh nhân bị giang mai. Giang mai là bệnh lây truyền qua đường tình dục do xoắn khuẩn giang mai Treponema pallidum gây nên.
Bệnh lây truyền chủ yếu qua đường tình dục và có thể lây truyền qua đường máu, lây truyền từ mẹ sang con. Bệnh có thể gây hậu quả nghiêm trọng như giang mai thần kinh, giang mai tim mạch, giang mai bẩm sinh.
Theo bác sĩ Quách Thị Hà Giang - Trưởng khoa điều trị bệnh da nam giới Bệnh viện Da liễu trung ương, quan hệ tình dục không an toàn tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, trong đó có bệnh giang mai.
Cả nam và nữ đều có nguy cơ mắc bệnh nếu không được bảo vệ. Vì đáp ứng miễn dịch đối với bệnh giang mai rất yếu nên người đã mắc bệnh, dù đã được điều trị khỏi, vẫn có thể tái nhiễm nếu tiếp tục quan hệ tình dục không an toàn.
Hơn nữa, bệnh có thể xuất hiện sau nhiều năm, thậm chí hàng chục năm, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, gây ra những di chứng không hồi phục như giang mai thần kinh - gây viêm màng não, liệt dây thần kinh sọ, tăng áp lực nội sọ; viêm tủy sống gây liệt; viêm củng mạc, mống mắt, màng bồ đào, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe người bệnh.
Theo báo cáo mới nhất về tình hình bệnh truyền nhiễm tại TP.HCM trong tuần 14 (từ ngày 30-3 đến 5-4) của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP (HCDC), số ca mắc tay chân miệng trên địa bàn tiếp tục tăng báo động.
Cụ thể trong tuần 14 ghi nhận 1.347 ca bệnh tay chân miệng, tăng 64% so với trung bình 4 tuần trước (821 ca).
Tích lũy từ đầu năm đến tuần 14 ghi nhận 10.496 ca, tăng 182,4% so với cùng kỳ năm 2025 (3.717 ca) và cao hơn ngưỡng cảnh báo (trung bình 5 năm + 2 độ lệch chuẩn).
Có đến 120/168 phường, xã, đặc khu có số mắc tăng so với trung bình 4 tuần trước, trong đó có 43/168 phường xã có số ca mắc tăng báo động.
Về ổ dịch tay chân miệng, ghi nhận 29 ổ dịch tại trường học và 17 ổ dịch cộng đồng trong tuần. Tích lũy từ đầu năm đến tuần 14 là 438 ổ dịch, trong đó có 244 ổ dịch trường học (61 ổ đang theo dõi, 183 ổ đã kết thúc) và 194 ổ dịch cộng đồng (29 ổ đang theo dõi, 165 ổ đã kết thúc theo dõi).
Trong tuần ghi nhận 425 ca tay chân miệng từ các tỉnh khác đến khám, điều trị tại TP.HCM (chiếm 24% trên tổng số 1.772 ca điều trị). Trong các ca bệnh nặng từ độ 2B trở lên, có 16/26 ca là bệnh nhân chuyển đến từ tỉnh khác (chiếm 61,5%).
Trong tuần không ghi nhận ca tử vong tay chân miệng. Tuy nhiên tích lũy từ đầu năm đến nay ghi nhận 4 ca tử vong, tăng 4 ca so với cùng kỳ năm 2025 (0 ca).
Theo HCDC, TP.HCM là địa phương tiếp nhận và điều trị số lượng lớn bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm từ các tỉnh khác, đặc biệt là các trường hợp nặng. Điều này tạo áp lực đáng kể lên hệ thống điều trị của TP, nhất là bệnh viện tuyến cuối.
Trước tình hình bệnh tay chân miệng tăng nhanh, HCDC cho biết tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn trực tiếp cho các phường, xã, đặc khu về việc triển khai các hoạt động giám sát, điều tra dịch tễ, xác định và xử lý ổ dịch tay chân miệng tại cộng đồng và trường học.
Đồng thời tiếp tục điều tra lấy mẫu xét nghiệm tác nhân tại các cơ sở điều trị và các ổ dịch cộng đồng trên địa bàn.
Song song đó đẩy mạnh truyền thông các biện pháp phòng chống tay chân miệng, đặc biệt tại các trường mầm non công lập và tư thục, các nhóm trẻ, các khu dân cư đông trẻ em.
Ngày 20/4, Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho biết sau 4 tháng điều trị, bệnh nhi đạt cân nặng 2,5 kg, đã tự ăn và duy trì hệ thống tim phổi ổn định. BS Hà Đức Dũng, Trung tâm Sơ sinh, cho biết gia đình mang con về nhà cùng bộ hồ sơ bệnh án dày cộp nặng tới 2 kg. Ông yêu cầu người nhà tuân thủ tuyệt đối hướng dẫn dinh dưỡng, đảm bảo vệ sinh môi trường sống nhằm phòng chống nhiễm khuẩn và đưa trẻ đi tiêm vaccine đúng lịch.
4 tháng trước, bệnh nhân lọt lòng ở mốc 25 tuần 4 ngày, mang theo nhiều rủi ro sinh tồn. Trẻ đối diện tình trạng suy hô hấp cực nặng, chảy máu não không do chấn thương và nhiễm khuẩn sơ sinh. Cơ thể bệnh nhi chưa hoàn thiện, nhịp thở yếu ớt khiến các bác sĩ phải theo dõi sát sao.
Đội ngũ y tế áp dụng phác đồ thở máy kéo dài phối hợp chặt chẽ với chế độ nuôi dưỡng đặc biệt. Trẻ phải thở máy kéo dài và quá trình cai máy diễn ra cực kỳ khó khăn. Để duy trì sự sống, các bác sĩ phải phối hợp chặt chẽ giữa phác đồ điều trị biến chứng và chế độ nuôi dưỡng đặc biệt. Mất một tháng chăm sóc tích cực, bé mới có thể bắt đầu ăn hoàn toàn qua đường tiêu hóa.
"Nhìn con đi được đến ngày hôm nay an toàn, tôi chỉ biết gửi lời biết ơn, tri ân sâu sắc nhất đến các bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh đã không chỉ cứu sống con mà còn luôn động viên gia đình trong những lúc khó khăn nhất", người mẹ chia sẻ.
Thống kê của Bộ Y tế chỉ ra tử vong sơ sinh chiếm 71% ca tử vong ở trẻ dưới một tuổi; trong đó nguyên nhân đẻ non và nhẹ cân chiếm tới 25%. Tổ chức Y tế ThThốngế giới (WHO) định nghĩa sinh non là tình trạng chuyển dạ trước 37 tuần tuổi thai. Trẻ sinh thiếu tháng mang hệ miễn dịch yếu, dễ mắc nhiễm trùng huyết, suy hô hấp, viêm ruột hoại tử và đối mặt nguy cơ bại não, mù, điếc.
Nhằm giảm thiểu rủi ro, giới chuyên môn khuyến cáo thai phụ chăm sóc thai kỳ cẩn thận, duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng và khám thai định kỳ để y bác sĩ kịp thời phát hiện, kiểm soát các bệnh lý nền.