Mục Lục
ToggleĐến đầu tháng 4, hầu hết đại học đưa ra phương án tuyển sinh dự kiến năm 2026. Trong đó, 64 trường đã công bố bảng quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, phổ biến là IELTS, sang điểm môn Tiếng Anh. Điểm này thường được kết hợp với điểm thi tốt nghiệp THPT hoặc học bạ hai môn khác trong tổ hợp để xét tuyển.
11 trường quy đổi IELTS từ 4.0. Đây là mức điểm thấp nhất, cũng là mức giúp thí sinh được miễn thi tốt nghiệp môn Tiếng Anh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong đó, Đại học Sài Gòn và Yersin Đà Lạt tính 7,5 điểm với mốc này.
Quy đổi từ mốc 4.5 IELTS là Đại học Điện lực, Mở Hà Nội, Công nghệ Giao thông vận tải, Học viện Hàng không Việt Nam…, phổ biến bằng 7-8 điểm môn tiếng Anh.
Số còn lại hầu hết yêu cầu IELTS từ 5.0. Nếu có IELTS từ 7.0 trở lên, nhiều trường tính cho thí sinh thành 10 điểm Tiếng Anh, như Đại học Bách khoa Hà Nội, Công nghiệp Hà Nội, Thương mại…
Trong khi đó, 6 trường chỉ tính mức tối đa môn Tiếng Anh nếu có IELTS từ 8.0 trở lên, ví dụ Đại học Ngoại thương, Khoa học và Công nghệ Hà Nội, CMC, Khoa học Tự nhiên TP HCM, Bách khoa TP HCM, Nguyễn Tất Thành.
Danh sách đại học quy đổi điểm IELTS năm 2026 tính đến đầu tháng 4 như sau:
Theo quy chế tuyển sinh ban hành giữa tháng 2, bảng quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ phải có tối thiểu 5 mức điểm chênh lệch.
Ngoài quy đổi, nhiều trường cộng điểm khuyến khích cho thí sinh có IELTS như Đại học Kiến trúc Hà Nội, Y tế công cộng, Luật TP HCM, Học viện Kỹ thuật mật mã, Tòa án… Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định thí sinh đã quy đổi điểm chứng chỉ ngoại ngữ thì không được cộng điểm khuyến khích.
Nhìn lại 10 năm xét tuyển IELTS vào đại học
Năm ngoái, hơn 70 đại học quy đổi IELTS thành điểm môn Tiếng Anh để xét kết hợp với điểm thi tốt nghiệp THPT hoặc học bạ, cũng với mức từ 4.0 trở lên.
Dương Tâm
Tin Gốc: https://vnexpress.net/danh-sach-dai-hoc-quy-doi-ielts-nam-2026-cap-nhat-nhat-5058995.html

Cô Hoàng Thị Chung, giáo viên (GV) Trường tiểu học Đền Lừ (P.Tương Mai, Hà Nội), cho biết cô có gần 30 năm trong nghề, đạt được rất nhiều thành tích như: GV giỏi cấp quận, chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, sáng kiến kinh nghiệm được giải cấp TP, giải thưởng cuộc thi thiết kế bài giảng cấp quốc gia… nhưng vẫn chưa được xét thăng hạng vì năm 2023 Q.Hoàng Mai (cũ) yêu cầu chỉ GV giữ chức vụ mới được thăng hạng. Do vậy, cô Chung có mong muốn những GV đủ điều kiện như cô được xét thăng hạng mà không bị gạt khỏi danh sách bởi những quy định do cơ sở tự đặt ra, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của GV.
Cô Vũ Thị Kim Tiến, GV Trường THPT Mê Linh (Hà Nội), chia sẻ năm 2017, cô tham gia kỳ thi thăng hạng do Sở Nội vụ Hà Nội tổ chức nhưng không đỗ. Đến năm 2023, cô nghe nói có đợt thi tuyển lần 2 và trường cô có 2 hồ sơ nộp để thi, còn lại chờ có đợt xét thì nộp. Tuy nhiên sau đó, Sở Nội vụ lại quyết định không thi mà chuyển sang xét tuyển.
Cũng theo cô Tiến, sau 1 đợt thi và 1 đợt xét, trường cô có 12 trường hợp được thăng hạng. Chủ yếu là những người chưa có nhiều kinh nghiệm, chưa có bề dày thành tích, trong khi 2 phó hiệu trưởng, 5 tổ trưởng chuyên môn và 5 tổ phó chuyên môn, hàng chục GV khác có bề dày thành tích và kinh nghiệm dạy học từ gần 30 năm lại không được xét thăng hạng. Đây là việc làm bất bình đẳng, thiệt thòi cho các GV có tuổi, có nhiều cống hiến lại chịu ấm ức và bất công.
Tương tự, cô Hồ Thị Xuân Thu, GV Trường phổ thông liên cấp Khương Hạ (Hà Nội), cho biết: "Năm 2023, tôi và 4 thầy cô trong trường thừa điều kiện thăng hạng, danh sách đã được gửi lên. Sau đó, 5 GV bị nhà trường gạt lại, trong khi đó thầy hiệu phó của trường bị thiếu điều kiện lại được gửi đi xét thăng hạng và bị đánh trượt. Trường đã làm mất cơ hội thăng hạng của GV. Hai năm vừa qua đều không có đợt thăng hạng nào. GV rất thiệt thòi, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần".
Thầy Nguyễn Văn Đường, GV Trường THPT Phú Xuyên A (Hà Nội), cho biết trong năm 2023, khi nhiều trường THPT tại Hà Nội tạo điều kiện tối đa cho GV đủ điều kiện được thăng hạng thì tại đơn vị của thầy chỉ tiêu lại bị "bóp lại". Sau khi được xét thì số lượng GV được thăng hạng trong cả hai đợt (năm 2020 và 2023) cũng chưa đủ 50%. Điều này tạo ra sự bất bình đẳng lớn ngay trong cùng một hệ thống giáo dục.
Nhiều ý kiến cho rằng với đồng lương GV eo hẹp, việc thăng hạng không chỉ là sự ghi nhận chuyên môn mà còn là nguồn động viên kinh tế thiết thực. Khi đã kịch trần lương hạng 3, thu nhập chững lại giữa bão giá, khiến những GV tâm huyết không khỏi chạnh lòng.
Thầy Nguyễn Văn Đường và nhiều GV Hà Nội cũng chỉ ra thực tế nhiều GV bị loại hồ sơ thăng hạng vì minh chứng "không thống nhất" và cho rằng đây là bất cập cần được làm rõ.
Theo quy định tại Thông tư 34/2021/TT-BGDĐT, hồ sơ xét thăng hạng GV phải đạt đủ 100 điểm. Việc đánh giá, chấm điểm, nhận xét và chịu trách nhiệm hồ sơ thuộc về hội đồng nhà trường, đứng đầu là hiệu trưởng, cùng với sự tham gia của các bộ phận chuyên môn và đoàn thể. Tuy nhiên, thực tế tại các trường THPT ở Hà Nội hiện nay cho thấy đang phát sinh nhiều bất cập.
Sở Nội vụ Hà Nội đã ban hành bảng tiêu chí chấm điểm hồ sơ với 3 nhóm tiêu chí chính, gồm: nhóm về đào tạo, bồi dưỡng; nhóm về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; nhóm về thực hiện nhiệm vụ. Đáng chú ý, ở nhóm năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, gồm nhiều tiêu chí mang tính định tính lại chưa có hướng dẫn cụ thể, thống nhất về cách hiểu và cách minh chứng. Điều này dẫn đến tình trạng mỗi GV chuẩn bị minh chứng theo một cách khác nhau, thiếu sự đồng bộ. Hệ quả là không ít GV bị loại hồ sơ ngay từ cấp trường với lý do "minh chứng chưa đủ sức thuyết phục".
Tuy nhiên, khi GV đề nghị làm rõ thế nào là thuyết phục, thì chính người đánh giá cũng không đưa ra được tiêu chí cụ thể. Việc đánh giá mang tính cảm tính, thiếu chuẩn hóa đã trực tiếp làm mất đi cơ hội thăng hạng của nhiều GV, gây tâm lý bức xúc và hoài nghi về tính công bằng.
Nêu thực tế trên, thầy Đường cho rằng cần thiết phải quay lại đúng tinh thần Thông tư 34 của Bộ GD-ĐT khi xây dựng và áp dụng tiêu chí. Cụ thể, với các tiêu chí về trình độ đào tạo, văn bằng, chứng chỉ: minh chứng phải là các giấy tờ pháp lý rõ ràng. Với các tiêu chí về năng lực, mức độ đáp ứng yêu cầu và thực hiện nhiệm vụ: cần được hội đồng nhà trường xác nhận bằng biên bản đánh giá, nhận xét, thay vì yêu cầu GV cung cấp các minh chứng rời rạc, thiếu thống nhất. Một biên bản đánh giá có trách nhiệm của hội đồng sẽ đảm bảo tính chính xác, khách quan và thống nhất hơn nhiều so với việc mỗi GV tự chứng minh năng lực bằng các tài liệu khác nhau.
Cũng theo thầy Đường, trong trường hợp số lượng hồ sơ vượt quá chỉ tiêu, việc lựa chọn cần dựa trên nhóm tiêu chí về thực hiện nhiệm vụ, vốn đã được quy định rõ trong thông tư. Đây chính là căn cứ phản ánh thực chất năng lực và quá trình công tác của GV trong nhiều năm (ví dụ 6 năm gần nhất tại Hà Nội), từ đó giúp hội đồng có cơ sở khách quan để xét chọn, tránh cách hiểu tùy tiện dẫn đến việc loại bỏ những hồ sơ xứng đáng.
Thăng hạng không chỉ là vấn đề thủ tục, mà trực tiếp liên quan đến quyền lợi, động lực và sự công bằng trong đội ngũ nhà giáo. Vì vậy, việc hoàn thiện tiêu chí, cách thức đánh giá minh bạch, thống nhất là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Nhiều GV ở Hà Nội mong cấp có thẩm quyền quy định tỷ lệ xét thăng hạng tại các trường phổ thông phù hợp hơn; có kế hoạch thăng hạng cho GV thường xuyên theo chu kỳ ít nhất 3 năm/lần để GV đủ điều kiện có cơ hội được xét thăng hạng kịp thời, không bị bỏ lỡ quá lâu, tránh thiệt thòi cho GV.
Cô Lê Thị Nguyệt Nga, GV Trường THPT Kỹ thuật Việt Trì (Phú Thọ), nêu quan điểm: "GV không ngại tiêu chí cao, cũng không cần tiêu chí thấp. Công bằng không nằm ở việc nới tiêu chí mà nằm ở chỗ người đạt tiêu chí có thực sự được hưởng quyền lợi tương xứng hay không. Nếu câu trả lời vẫn là chờ chỉ tiêu, áp tỷ lệ thì mọi sự "nới lỏng" cũng chỉ dừng lại trên giấy".
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Học sinh Việt Nam giành 2 huy chương vàng kỳ thi hóa học 'khó nhất hành tinh'

Thông tin trên được Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD-ĐT) nhận được ngày 23.4. Đây là năm thứ 2 đoàn học sinh Việt Nam tham dự Kỳ thi Olympic hóa học quốc tế Mendeleev (IMChO) lần thứ 60, diễn ra từ ngày 15 - 23. 4 tại Moscow, Liên bang Nga.
Cụ thể, 2 huy chương vàng thuộc về các học sinh: Ngô Hoàng Minh, lớp 12, Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam; Nguyễn Thái Minh, lớp 11, Trường THPT chuyên Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội.
2 học sinh giành huy chương bạc gồm: Nguyễn Hữu Tuệ, lớp 12,Trường THPT chuyên Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Công Thành, lớp 12, Trường THPT chuyên Chu Văn An, Hà Nội.
Đặc biệt, em Ngô Hoàng Minh đã xuất sắc xếp thứ 2 toàn kỳ thi và 3 thí sinh còn lại đều trong nhóm 30.
Đây là năm thứ hai Việt Nam chính thức tham dự IMChO, tuyển chọn từ kỳ thi chọn đội tuyển Olympic khu vực và quốc tế năm 2026 của Bộ GD-ĐT.
IMChO được tổ chức dưới sự bảo trợ của "Thập kỷ Khoa học và Công nghệ tại Nga" do Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin công bố; đồng thời do Khoa Hóa học, Trường ĐH Tổng hợp quốc gia Moscow mang tên M.V. Lomonosov và Quỹ Melnichenko phối hợp tổ chức.
IMChO kế thừa truyền thống từ kỳ thi Olympic hóa học toàn Liên bang Xô Viết, duy trì từ năm 1967. Năm 2026, kỳ thi kỷ niệm lần thứ 60, được tổ chức tại Moscow với sự tham gia của thí sinh đến từ 37 quốc gia.
IMChO, cùng với Olympic hóa học quốc tế (IChO), là những kỳ thi học thuật danh giá và có độ khó cao nhất thế giới trong lĩnh vực hóa học dành cho học sinh phổ thông. Giới chuyên gia vẫn gọi đây là "Kỳ thi hóa học khó nhất hành tinh" vì các bài toán trong kỳ thi có độ khó và tính phân hóa rất cao..
IMChO được tổ chức qua 3 vòng thi trong 3 ngày, gồm 2 vòng thi lý thuyết và 1 vòng thi thực hành, mỗi vòng thi kéo dài 5 giờ. Ban tổ chức trao giải cho khoảng 60% thí sinh tham dự.
Tin Gốc: Thanh Niên

Được tổ chức bởi Nobel Prize Museum, hội nghị không chỉ quy tụ các giáo viên toàn cầu mà còn kết nối trực tiếp với các nhà khoa học đoạt giải Nobel, qua đó đưa những tri thức đỉnh cao của nhân loại trở lại một câu hỏi rất "đời thường" - làm thế nào để những tri thức đó được dạy, được hiểu và được sử dụng trong lớp học?
Là giám đốc học thuật tổ chức giáo dục YOUREORG, đồng thời là học giả Chevening, học thạc sĩ ngành lãnh đạo giáo dục tại ĐH UCL (University College London), được dự Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel với tôi là một trải nghiệm quý giá. Trong không gian đó, một tư duy cốt lõi được lặp lại xuyên suốt các phiên thảo luận.
Giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà đóng vai trò giúp học sinh hiểu và hành động trước các vấn đề toàn cầu. Và để làm được điều này, giáo dục phải thay đổi cách tiếp cận - liên ngành, dựa trên khoa học và gắn với thực tiễn xã hội. Trọng tâm không còn là dạy cái gì, mà là dạy để làm gì trong một thế giới đang biến đổi.
Một điểm đặc biệt của hội nghị là cách các tri thức khoa học phức tạp được chuyển ngữ về ngôn ngữ giáo dục. Trong các phiên liên quan đến khoa học và công nghệ, những khái niệm tưởng chừng xa vời như công nghệ sinh học hay cấu trúc phân tử được trình bày theo hướng trực quan, dễ tiếp cận, mô phỏng vào các tình huống gắn với đời sống, giúp giáo viên dễ dàng chuyển hóa thành bài học cụ thể.
Thầy Nguyễn Ngọc Ân, đang học thạc sĩ ngành giáo dục và công nghệ, ĐH UCL, tham gia Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel 2026, cho rằng giá trị cốt lõi của chương trình không nằm ở việc cung cấp thêm kiến thức mới, mà ở cách tri thức được tổ chức lại để có thể đi vào lớp học.
Từ quan sát này, ông cho rằng bài học quan trọng đối với giáo dục Việt Nam không phải là bổ sung nội dung, mà là thay đổi cách trình bày và tổ chức tri thức. Không thể duy trì cách dạy thiên về diễn giải một chiều nếu muốn tạo ra năng lực thực chất.
Bác sĩ Nguyễn Văn Bình, học giả Chevening, đang học thạc sĩ ngành sức khỏe toàn cầu và phát triển tại ĐH UCL, cho biết điều khiến ông suy nghĩ nhiều nhất không nằm ở các phát minh đột phá, mà ở cách tri thức khoa học được trở nên gần gũi hơn với đời sống thông qua giáo dục.
Giải Nobel thường gắn với những thành tựu khoa học ở tầm cao, nhưng các thông điệp tại hội nghị lại xoay quanh những vấn đề rất cơ bản. Con người sống như thế nào, học như thế nào và tương tác ra sao với hệ thống xã hội. Trong cách tiếp cận này, sức khỏe không còn là câu chuyện riêng của ngành y, mà trở thành một vấn đề liên ngành, trong đó giáo dục giữ vai trò trung tâm.
Quan sát này, theo bác sĩ Bình, đặc biệt có ý nghĩa đối với đội ngũ giảng viên tại các trường đại học y khoa ở Việt Nam.
Chúng ta đang đào tạo bác sĩ rất tốt về chuyên môn, nhưng câu hỏi là liệu sinh viên y có được chuẩn bị để hiểu, về tác động tới các yếu tố xã hội của sức khỏe hay chưa. Khi sức khỏe gắn với hành vi, môi trường và giáo dục, thì đào tạo y khoa cũng cần mở rộng cách tiếp cận.
Thông điệp xuyên suốt mà chúng tôi ấn tượng tại hội nghị là vai trò ngày càng quan trọng của giáo viên, đồng thời các vấn đề toàn cầu được đưa vào giáo dục như một phần của năng lực sống, thay vì là nội dung bổ sung.
Bà Helena Barret, Giám đốc giáo dục của Bảo tàng Nobel Prize Museum, khi trao đổi riêng với chúng tôi, nhấn mạnh rằng trong một thế giới nơi thông tin ngày càng sẵn có, giá trị của giáo viên không nằm ở việc cung cấp kiến thức, mà ở việc giúp học sinh hiểu điều gì là quan trọng và sử dụng tri thức đó như thế nào.
Điều này cũng được phản ánh trong cách tổ chức lớp học tại các trường tham quan. Giáo viên không bị ràng buộc bởi một kịch bản cứng nhắc mà được trao quyền để thiết kế trải nghiệm học tập. Họ đặt câu hỏi, tạo tình huống và điều chỉnh cách dạy dựa trên phản ứng của học sinh.
Tại ngôi trường Franska Skolan, ở Stockholm, khi quan sát các lớp học ở đây, tôi thấy trong các tiết học, học sinh không học theo một lộ trình cố định mà được đặt vào tình huống để suy nghĩ, thử nghiệm và tự rút ra kết luận.
Trong một tiết toán, cùng một bài toán được giải theo nhiều cách. Giáo viên không đưa ra đáp án ngay mà yêu cầu học sinh so sánh, phản biện và tự viết lại cách hiểu của mình. Điều quan trọng không nằm ở việc đúng hay sai, mà ở quá trình tư duy.
Họ không dạy để học sinh làm đúng, mà dạy để học sinh hiểu. Khi đã hiểu, các em sẽ biết cách áp dụng.
Những quan sát, trải nghiệm tại Stockholm cho chúng tôi thấy rằng, điều quan trọng không phải học sinh Việt Nam cần "học nhiều hơn", mà là học theo cách có ý nghĩa hơn. Đây cũng là tinh thần đã được nhấn mạnh trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, khi chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất và năng lực người học.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giáo viên không chỉ dừng ở việc cập nhật kiến thức, mà là tiếp cận được với tư duy khoa học hiện đại, hiểu các vấn đề từ góc nhìn liên ngành và quan trọng hơn là chuyển hóa được những tri thức đó thành trải nghiệm học tập gắn với thực tiễn. Đây cũng là một trong những định hướng lớn trong quá trình chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo hiện nay.
Tuy nhiên, những kinh nghiệm từ quốc tế không phải là những mô hình có thể áp dụng nguyên vẹn. Giá trị lớn nhất nằm ở việc cung cấp thêm những góc nhìn, từ đó giúp quá trình đổi mới trong nước có thêm cơ sở tham chiếu.
Điều quan trọng không phải là mang về một phương pháp cụ thể, mà là thay đổi cách mình nhìn về giáo dục. Khi cách nhìn thay đổi, cách làm sẽ thay đổi.
Trong một thế giới ngày càng phức tạp và nhiều biến động, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc giúp con người thích nghi, mà còn góp phần định hình cách họ hiểu và tham gia vào xã hội. Và những thay đổi đó, xét cho cùng, vẫn bắt đầu từ lớp học.

