Phi hành đoàn trên tàu vũ trụ Orion thuộc nhiệm vụ Artemis II đang trong ngày thứ tư trên chuyến bay 10 ngày quay quanh Mặt Trăng. Đây là sự kiện được đánh giá mang tính lịch sử bởi khôi phục lại hoạt động thám hiểm không gian của con người ngoài Trái Đất. Artemis II còn là chuyến bay có người lái lên Mặt Trăng đầu tiên chứng minh tính ưu việt của công nghệ truyền dữ liệu bằng tia laser, hứa hẹn cách mạng hóa cách thức liên lạc giữa các tàu vũ trụ.
Tàu Orion hiện mang theo O2O, hệ thống liên lạc laser được phát triển tại Phòng thí nghiệm Lincoln của của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) phối hợp với Trung tâm không gian Goddard của NASA. Công nghệ này có khả năng truyền dữ liệu băng thông cao hơn từ không gian so với các hệ thống tần số vô tuyến (RF) truyền thống. Trong sứ mệnh Artemis II, O2O sử dụng chùm tia laser để gửi video và hình ảnh độ phân giải cao về bề mặt Mặt Trăng xuống Trái Đất với tốc độ tới 260 Mb/giây (Mbps).
“Truyền dữ liệu trong không gian luôn là một thách thức lớn”, Farzana Khatri, kỹ sư hệ thống trưởng kiêm thành viên cấp cao của Nhóm Truyền thông Quang học và Lượng tử thuộc Phòng thí nghiệm Lincoln, cho biết trên trang MIT. “Cách thức truyền qua RF đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Phổ tần RF hiện bị tắc nghẽn nghiêm trọng và cũng không hoạt động hiệu quả ở khoảng cách xa hơn trong không gian. Truyền dữ liệu qua laser (lasercom) có thể giải quyết vấn đề”.
Phòng thí nghiệm Lincoln đã phát triển O2O trong hơn hai thập kỷ. NASA tích hợp công nghệ này vào Artemis II và các sứ mệnh trong tương lai nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thám hiểm không gian đường dài và thu thập dữ liệu lớn.
Tàu vũ trụ Orion đã thu thập được lượng dữ liệu khổng lồ trong ngày đầu tiên của sứ mệnh. Theo Khatri, trước đây, những dữ liệu này nằm trên tàu vũ trụ cho đến khi hạ cánh xuống biển, thậm chí có thể mất nhiều tháng để được chuyển xuống. Nhưng với O2O hoạt động ở tốc độ cao nhất, tất cả dữ liệu có thể đưa xuống Trái Đất trong vòng vài giờ để phân tích. Nhờ đó, NASA có thể “livestream” mọi hoạt động trong sứ mệnh Artemis II.
“Với tốc độ 260 megabit mỗi giây, O2O giúp truyền video độ phân giải cao 4K từ Mặt Trăng”, Steve Horowitz, quản lý dự án O2O, cho biết trên website NASA. “Ngoài video và hình ảnh, O2O sẽ truyền và nhận quy trình, hình ảnh, kế hoạch bay và đóng vai trò là cầu nối giữa Orion và trung tâm điều khiển nhiệm vụ trên Trái Đất”.
Cốt lõi của O2O là thiết bị đầu cuối quang học dạng module linh hoạt và có khả năng mở rộng (MAScOT). Có kích thước bằng một con mèo nhà, MAScOT gồm một kính viễn vọng 4 inch được gắn trên một giá đỡ xoay hai trục (gimbal) với hệ thống quang học phía sau cố định. Gimbal định hướng chính xác kính viễn vọng và theo dõi chùm tia laser, qua đó các tín hiệu liên lạc được phát ra và nhận theo hướng người nhận hoặc người gửi dữ liệu mong muốn. Bên dưới gimbal là hệ thống quang học gồm các thấu kính hội tụ ánh sáng, cảm biến theo dõi, gương chuyển hướng nhanh và một số thành phần khác để định hướng chùm tia laser một cách chính xác.
Theo Axios, MAScOT là một phần của Dự án trình diễn chuyển tiếp truyền laser tích hợp (LCRD), gồm thiết bị đầu cuối dạng modem và bộ khuếch đại ILLUMA-T, được phóng lần đầu lên Trạm Vũ trụ Quốc tế ISS vào tháng 11/2023. Trong 6 tháng tiếp theo, nhóm nghiên cứu của MIT đã thực hiện các thí nghiệm kiểm tra, đánh giá chức năng cơ bản, hiệu suất và tiện ích của hệ thống.
Ban đầu, nhóm đã kiểm tra xem liên kết quang ILLUMA-T đến LCRD có hoạt động ở tốc độ dữ liệu lý tưởng là 622 Mbps tải xuống và 51 Mbps tải lên hay không. Trên thực tế, tốc độ dữ liệu thậm chí còn cao hơn mong đợi với 1,2 Gb/giây (Gbps) tải xuống và 155 Mbps tải lên. MAScOT được vinh danh trong Giải thưởng R&D 100 năm 2025, sau đó được sử dụng cho Artemis II và sẽ hỗ trợ các sứ mệnh không gian trong tương lai.
“Thành công của chúng tôi với ILLUMA-T đặt nền tảng cho việc truyền phát video độ phân giải HD đến và đi từ Mặt Trăng”, Jade Wang, đồng trưởng nhóm nghiên cứu Nhóm Truyền thông Quang học và Lượng tử, cho biết. “Bạn có thể hình dung tốc độ cho phép phi hành gia Artemis sử dụng để kết nối với bác sĩ, phối hợp các hoạt động nhiệm vụ và phát trực tiếp chuyến đi lên Mặt Trăng”.
Trong sứ mệnh Artemis II, một nhóm vận hành chuyên trách của Phòng thí nghiệm Lincoln đảm nhiệm nhiệm vụ theo dõi các vấn đề kết nối kéo dài 10 ngày của phi hành đoàn từ các trạm mặt đất ở Houston (Texas) và White Sands (New Mexico) của Mỹ, thậm chí cả một trạm mặt đất ở Australia giúp quan sát tàu vũ trụ tốt hơn từ bán cầu Nam. Trước khi phóng, nhóm đã thực hiện một loạt mô phỏng từ trước đến khi phóng, hành trình lên Mặt Trăng và trở về, cho đến khi hạ cánh xuống biển vào cuối sứ mệnh.
“Những bài học kinh nghiệm từ sứ mệnh Artemis II sẽ mở đường cho con người quay trở lại bề mặt Mặt Trăng và xa hơn nữa, cuối cùng là đến Sao Hỏa”, Khatri nói thêm. “Thông qua các chương trình Artemis, O2O sẽ đặt nền tảng cho kết nối dữ liệu tốc độ cao từ không gian, tạo nên di sản cho thế hệ tương lai”.
Tàu Artemis II rời bệ phóng tối 1/4 (5h35 ngày 2/4 giờ Hà Nội), đưa bốn phi hành gia bay quanh Mặt Trăng, đánh dấu sứ mệnh có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA).
Nếu không có vấn đề lớn nào khác phát sinh trong Artemis II, NASA sẽ thử nghiệm tàu Orion và các trạm đổ bộ Mặt Trăng trên quỹ đạo Trái Đất trong nhiệm vụ Artemis III năm 2027. Cơ quan này đặt mục tiêu thực hiện chuyến đổ bộ Mặt Trăng đầu tiên vào năm 2028 với nhiệm vụ Artemis IV. Đến thập niên 2030, NASA kỳ vọng bắt đầu phát triển các khu định cư, robot tự hành và trạm đổ bộ chở hàng, hướng đến thiết lập sự hiện diện bền vững trên bề mặt Mặt Trăng.
Bảo Lâm tổng hợp
Toàn cảnh Trái Đất nhìn từ Artemis II
Phi hành đoàn Artemis II vượt mốc ‘nửa đường tới Mặt Trăng’
Điểm đặc biệt của bốn phi hành gia Artemis II
Chương trình Mặt Trăng mới của Mỹ khác gì 54 năm trước?
Giữa kỷ nguyên của USB 4 và Thunderbolt siêu tốc, việc một cổng kết nối ra đời từ năm 2000 vẫn xuất hiện trên những siêu phẩm công nghệ mới nhất có vẻ là một sự lạc hậu. Thế nhưng, đằng sau đó là những bí mật về độ ổn định mà các chuẩn tốc độ cao hiện nay vẫn chưa thể khắc phục.
Dù đã bước sang tuổi thứ 26, USB 2.0 vẫn là cổng quan trọng không thể thiếu trên mọi bo mạch chủ và laptop hiện đại. Không phải các hãng sản xuất muốn tiết kiệm chi phí, mà chính người dùng đang cần sự tin cậy tuyệt đối mà chỉ tiêu chuẩn này mới có thể mang lại.
Một sự thật ít người biết là chuẩn USB 3.0 lại đứng sau những pha giật lag khó chịu của chuột không dây hay Wi-Fi. Khi truyền dữ liệu tốc độ cao qua dây đồng, USB 3.0 vô tình phát ra sóng vô tuyến trùng đúng dải tần 2,4 GHz, vốn là 'lãnh địa' của Bluetooth và mạng không dây.
Trong khi đó, USB 2.0 với tốc độ truyền tín hiệu thấp hơn lại hoàn toàn vô hại. Đây chính là lý do vì sao khi cắm đầu thu (dongle) chuột vào cổng USB 2.0, mọi hiện tượng trễ hay mất kết nối bỗng biến mất như chưa từng xảy ra.
Đối với những người làm nhạc hay livestream, USB 2.0 là một lựa chọn tốt hơn hẳn các cổng kết nối hiện đại. Các chuẩn USB mới thường có cơ chế quản lý điện năng gắt gao để tiết kiệm pin, vô tình tạo ra những quãng nghỉ ngắn (latency) đủ để làm hỏng một bản thu âm chất lượng cao.
Ngược lại, USB 2.0 duy trì một dòng chảy dữ liệu liên tục và đơn giản. Vì băng thông của nó vốn phù hợp cho âm thanh, nên việc dùng USB 2.0 là cách an toàn nhất để tránh mọi rủi ro về độ trễ hay méo tiếng.
Có bao giờ bạn thắc mắc tại sao khi máy tính gặp sự cố, các kỹ thuật viên luôn yêu cầu cắm USB vào đúng cổng USB không có màu xanh? Đó là vì khả năng tương thích của USB 3.0 đôi khi chỉ nằm trên giấy tờ. Trong các tác vụ nhạy cảm như cập nhật BIOS hay boot vào các bản WinPE cứu hộ hệ thống, USB 2.0 vẫn là 'ngôn ngữ chung' ổn định nhất mà mọi phần cứng đều hiểu.
Bên cạnh đó, việc cắm những thiết bị tiêu tốn ít tài nguyên như bàn phím, chuột hay máy in vào cổng USB 2.0 còn giúp giải phóng các cổng tốc độ cao cho những tác vụ thực sự cần thiết như truyền file nặng hay xuất hình ảnh 4K. Rõ ràng, trong thế giới công nghệ, không phải lúc nào nhanh hơn cũng đồng nghĩa với tốt hơn.
Ngày 6-4, Cục Khí tượng thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết đơn vị này vừa ra mắt ứng dụng Thời tiết Việt Nam KTTV.
Một trong những tính năng nổi bật của ứng dụng là thông tin thời tiết theo vị trí người dùng hoặc tra cứu thời tiết tại các xã, phường trên cả nước thông qua công cụ tìm kiếm thông minh, tích hợp gợi ý tự động.
Các thông tin thời tiết bao gồm nhiệt độ, lượng mưa, tốc độ gió, độ ẩm, tình trạng mây và dự báo thời tiết trong 3 giờ tới với các thông số được cập nhật tự động sau mỗi 10 phút. Cùng với đó là thông tin dự báo thời tiết 10 ngày tới.
Điểm nhấn mang tính đột phá của ứng dụng nằm ở hệ thống cảnh báo thiên tai và thời tiết nguy hiểm với độ nhạy bén cao.
Mọi diễn biến bất thường của thời tiết - từ các đợt mưa dông diện rộng, dông sét, sạt lở, lũ quét, bão, áp thấp nhiệt đới cho đến gió mạnh trên biển - đều được cập nhật liên tục từ nguồn dữ liệu chính thống của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia và ưu tiên hiển thị ngay tại giao diện chính.
Nhằm tối ưu hóa khả năng bảo vệ người dùng, ứng dụng đã bổ sung tính năng cảnh báo dông sét thời gian thực.
Hệ thống sử dụng dữ liệu từ mạng lưới định vị sét để phát hiện sớm các khu vực có hoạt động điện tích mạnh, từ đó đưa ra thông báo kịp thời giúp người dùng chủ động ứng phó trước mọi tình huống thời tiết cực đoan.
Đặc biệt, ứng dụng đã tích hợp thành công tính năng cảnh báo lũ quét và sạt lở đất thời gian thực theo vị trí người dùng.
Các điểm nguy cơ được biểu thị bằng hệ thống biểu tượng (icon) theo vị trí địa lý cụ thể, phân loại qua 3 cấp độ trung bình, cao và rất cao.
Cục Khí tượng thủy văn cho biết thời gian tới, đơn vị sẽ tiếp tục nghiên cứu, cập nhật, bổ sung các bản đồ cảnh báo mưa, cảnh báo bão và các sản phẩm khác của cục nhằm đa dạng hóa các chức năng, đáp ứng nhu cầu cao hơn của cộng đồng.
LG vừa tổ chức chương trình đào tạo kéo dài 2 ngày về trí tuệ nhân tạo (AI) cho tất cả giám đốc điều hành tại Hàn Quốc. Chương trình diễn ra tại khuôn viên Digital Park ở Pyeongtaek, tỉnh Gyeonggi, nằm trong chiến lược của công ty nhằm tích hợp AI vào mọi hoạt động.
Theo Korea Herald, các buổi đào tạo bắt buộc diễn ra vào đầu tháng này đã cho phép các giám đốc làm việc trực tiếp với nhiều công cụ AI, bao gồm mô hình Exaone nội bộ của LG, ChatGPT của OpenAI và Gemini của Google. Họ đã thực hiện các nhiệm vụ từ xây dựng các tác nhân tự động hóa quy trình làm việc đến tạo báo cáo hỗ trợ bởi AI.
Chương trình đào tạo này được thực hiện theo cam kết của CEO Lyu Jae-cheol, người nhậm chức vào tháng 12 năm ngoái. Tại cuộc họp cổ đông thường niên vào ngày 23.3, ông Lyu nhấn mạnh AI sẽ là công cụ chính để cải cách hoạt động của LG Electronics. Ông cho biết: "Chúng tôi sẽ kết hợp các giải pháp trí tuệ nhân tạo với năng lực sản xuất vượt trội của mình và nâng cao năng suất lên 30% trong vòng hai đến ba năm tới".
Chủ tịch Tập đoàn LG, ông Koo Kwang-mo, cũng đã kêu gọi hành động trong một thông điệp tương tự vào ngày 25.3, nhấn mạnh rằng "tốc độ là điều quan trọng nhất trong chuyển đổi AI" và yêu cầu các CEO phải trực tiếp chỉ đạo quá trình này.
Tình hình tài chính hiện tại của LG đã buộc công ty phải thúc đẩy sự cấp bách trong việc chuyển đổi. Mặc dù công ty đạt doanh thu kỷ lục 89.200 tỉ won (58,4 tỉ USD) vào năm 2025, lợi nhuận hoạt động đã giảm 27,5% xuống còn 2.480 tỉ won do thua lỗ trong mảng kinh doanh TV và chi phí tái cấu trúc.
LG cho biết một số hệ thống AI do công ty phát triển đã cho ra kết quả tích cực. Thông qua mối quan hệ hợp tác với Microsoft, hệ thống Chatda cho phép nhân viên truy vấn dữ liệu lớn qua hội thoại, giúp rút ngắn thời gian phân tích từ 3 đến 5 ngày xuống còn khoảng 30 phút. Hệ thống này cũng giúp LG điều chỉnh sản phẩm theo từng thị trường cụ thể, như việc thêm tính năng duy trì nhiệt độ ổn định cho tủ lạnh tại Ấn Độ và tùy chọn giặt nhanh cho khách hàng tại Brazil.
Ngoài ra, trợ lý AI nội bộ của LG là LGenie có khả năng xử lý hơn 700.000 yêu cầu mỗi tháng, cung cấp dịch vụ phiên dịch thời gian thực bằng 71 ngôn ngữ. Trong lĩnh vực dịch vụ khách hàng, việc triển khai các công cụ trung tâm liên lạc hỗ trợ bởi AI đã giúp giảm 37% số yêu cầu kỹ thuật viên không cần thiết, đồng thời cho phép 14% nhân viên chuyển sang xử lý các trường hợp phức tạp hơn.