Bộ Tư pháp mới đây công bố hồ sơ thẩm định dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm. Dự thảo này do Bộ Y tế chủ trì soạn thảo.
Theo Bộ Y tế, an toàn thực phẩm là lĩnh vực tác động trực tiếp đến sức khỏe người dân, thường xuyên phát sinh các hành vi vi phạm với tính chất, mức độ ngày càng tinh vi, phức tạp.
Tuy vậy, mức xử phạt đối với nhiều hành vi hiện còn thấp, không đủ tính răn đe, nhất là các vi phạm về điều kiện bảo đảm an toàn đối với sản phẩm thực phẩm, tự công bố sản phẩm, quy định về kiểm nghiệm thực phẩm, quảng cáo thực phẩm, kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, sử dụng phụ gia không được phép hoặc vượt mức cho phép…
Cơ quan soạn thảo cho rằng cần tăng mức xử phạt nhằm đảm bảo tính răn đe và ý thức tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Đồng thời, cần bổ sung một số hành vi chưa hiện hành, chưa quy định cho phù hợp với tình hình thực tế.
Tại dự thảo, Bộ Y tế đề xuất tăng mức phạt đối với các hành vi vi phạm từ 1,5 – 2 lần, tùy theo tính chất, mức độ, mức phạt của các hành vi; cùng đó là tăng hình phạt bổ sung.
Mức phạt tiền tối đa về an toàn thực phẩm sẽ là 100 triệu đồng đối với cá nhân và 200 triệu đồng đối với tổ chức, trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác.
Dự thảo cũng đề xuất sửa đổi về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt hành chính; bổ sung về thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành, lĩnh vực và một số chức danh khác…
Về một số vi phạm cụ thể, dự thảo đề xuất phạt tiền từ 80 – 100 triệu đồng với các hành vi sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10 triệu đồng trở lên mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cùng đó là hành vi sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm có chứa hoặc nhiễm một trong các kim loại nặng, chất độc hại vượt giới hạn cho phép.
Đặc biệt, nếu mức tiền phạt cao nhất của khung tiền phạt tương ứng vẫn còn thấp hơn 7 lần giá trị sản phẩm vi phạm (mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự) thì phạt tiền từ 5 – 7 lần giá trị sản phẩm vi phạm.
Dự thảo cũng đề xuất mức phạt tiền từ 45 – 60 triệu đồng đối với hành vi sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ.
Phạt tiền từ 15 – 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi:
– Nơi sản xuất, chế biến, kinh doanh, bảo quản không cách biệt với nguồn ô nhiễm bụi, hóa chất độc hại và các yếu tố gây hại khác.
– Tường, trần, nền nhà khu vực sản xuất, kinh doanh, kho bảo quản bị thấm nước, rạn nứt, ẩm mốc.
– Không có hoặc không đầy đủ trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện rửa và khử trùng phù hợp quy định để rửa, khử trùng tay, vệ sinh cá nhân và trang thiết bị, dụng cụ…
Ngày 10.4, Ban Nội chính Thành ủy TP.HCM tổ chức hội nghị giao ban công tác nội chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, cải cách tư pháp, tiếp công dân và xử lý đơn thư trên địa bàn.
Dự hội nghị có Phó bí thư Thường trực Thành ủy TP.HCM Lê Quốc Phong; Vụ trưởng Vụ Địa phương III (Ban Nội chính Trung ương) Trần Hoàn Kiếm; Trưởng Ban Nội chính Thành ủy TP.HCM Trần Văn Tuấn, cùng hơn 600 đại biểu là lãnh đạo 168 phường, xã, đặc khu trên địa bàn TP.HCM.
Đây là hội nghị giao ban công tác đầu tiên giữa Ban Nội chính Thành ủy với các đảng ủy xã, phường, đặc khu sau sáp nhập.
Tại hội nghị, báo cáo viên của Ban Nội chính Trung ương đã truyền đạt, trao đổi nhiều vấn đề quan trọng về quan điểm, chủ trương, yêu cầu trọng tâm đối với công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tiếp công dân và xử lý đơn thư của xã, phường, đặc khu trong giai đoạn hiện nay.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó bí thư Thường trực Lê Quốc Phong đề nghị các địa phương khi giải quyết vấn đề cụ thể tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành. Cố gắng giải quyết trên cơ sở đối thoại trực diện để đi đến tận cùng vấn đề, có thể thống nhất được với nhau, cùng chung nhận thức và giải quyết dứt điểm vụ việc.
Trong bối cảnh khối lượng công việc nhiều, ông Phong đề nghị Ban Nội chính nghiên cứu, tăng cường chuyển đổi số, phần mềm hỗ trợ cơ sở, truy xuất dữ liệu, cập nhật thông tin phục vụ giải quyết công việc tốt hơn.
Trên quan điểm cá nhân, ông Phong ủng hộ thành lập tổ công tác nội chính ở địa phương. Tuy nhiên, ông lưu ý tổ công tác ra đời cần có kênh hoạt động, cơ chế hoạt động định kỳ để giải quyết và phát huy được tính hiệu quả của tổ.
Theo Ban nội chính Thành ủy TP.HCM, sau sáp nhập, thành phố có sự thay đổi lớn về phạm vi địa bàn và quy mô dân số, trở thành siêu đô thị lớn nhất cả nước, mang đến nhiều cơ hội, điều kiện thuận lợi để phát triển.
Bên cạnh đó, cũng đặt ra không ít vấn đề phải giải quyết trong việc thay đổi, thích ứng với mô hình quản trị mới; những vấn đề thực tiễn mới phát sinh, vượt ra ngoài các dự báo, chưa có tiền lệ trong công tác trước đây của các cơ quan, đơn vị, địa phương.
Tối 16/4, Trung tâm Chỉ huy 114 nhận tin báo có người định nhảy cầu Thuận Phước. Đơn vị đã điều động cano chuyên dụng cùng 7 cán bộ, chiến sĩ thuộc Đội Chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ đến hiện trường.
Đến 19h59, nam thanh niên bất ngờ nhảy từ trên cầu xuống mặt nước. Lực lượng cứu hộ tổ chức ứng cứu, sau 4 phút đã tiếp cận và đến 20h03 đưa được nạn nhân lên cano. Người này trú phường Sơn Trà.
Sau khi vào bờ, nạn nhân được bàn giao cho Trung tâm Y tế khu vực Sơn Trà để chăm sóc sức khỏe.
Thuận Phước là cầu dây võng bắc qua cửa sông Hàn, độ cao từ mặt cầu xuống mực nước khoảng 27 m. Nơi đây từng xảy ra nhiều vụ nhảy cầu. Việc cứu sống nạn nhân đòi hỏi sự có mặt và ứng cứu nhanh chóng từ lực lượng chuyên trách.
Số liệu về sự lệch pha giữa nhu cầu tìm việc làm của lao động trung niên (từ 36 - 49 tuổi) với thực tế tuyển dụng của doanh nghiệp nêu trong báo cáo thị trường lao động quý 1/2026 của Trung tâm Dịch vụ việc làm TP.HCM.
Cụ thể, nhóm từ 36 - 49 tuổi đang đi tìm việc làm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 20.751 người (gần 40%), tiếp đến là nhóm 25 - 35 tuổi với 19.926 người (hơn 37%).
Như vậy, riêng hai nhóm 25 - 49 tuổi chiếm phần lớn tổng nguồn cung lao động. Điều này phản ánh đặc điểm lực lượng tìm việc chủ yếu là những người có kinh nghiệm và có xu hướng dịch chuyển việc làm nhằm cải thiện điều kiện lao động hoặc thu nhập. Đây cũng là nhóm lao động có khả năng đáp ứng nhanh yêu cầu công việc nhờ kinh nghiệm tích lũy trong quá trình làm việc.
Ở nhóm tuổi trẻ hơn, 18 - 24 tuổi ghi nhận 6.263 người (gần 12%), đại diện cho lực lượng lao động mới tham gia thị trường hoặc đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ học tập sang việc làm.
Trong khi đó, nhóm từ 50 tuổi trở lên đạt 5.701 người (hơn 10%). Đây là nhóm lao động thường chịu nhiều hạn chế hơn về yêu cầu cường độ lao động và khả năng thích ứng với một số loại hình công việc. Do đó, hiệu quả kết nối việc làm phụ thuộc đáng kể vào hoạt động tư vấn, định hướng nghề nghiệp phù hợp với điều kiện và năng lực của người lao động.
Trước nguồn cung lao động dồi dào ở nhóm tuổi từ 36 - 49 thì doanh nghiệp lại không mặn mà với người lao động trong độ tuổi này.
Trong 82.762 vị trí việc làm doanh nghiệp cần tuyển ở quý 1/2026, có hơn 58% tương ứng 48.177 vị trí không đặt ra yêu cầu cụ thể về số tuổi, chấp nhận người lao động trong độ tuổi lao động phổ biến 18 - 60 tuổi.
Tuy nhiên, trong nhóm việc làm quy định về độ tuổi, nhóm người trẻ, từ 18 – 35 tuổi được ưu tiên nhất với hơn 41% tương ứng 34.319 vị trí. Còn nhu cầu đối với nhóm lao động 36 – 49 tuổi chiếm tỷ trọng rất nhỏ (0,32%). Đặc biệt, nhu cầu tuyển người trên 50 tuổi không đáng kể (0,01%).
Theo bà Nguyễn Văn Hạnh Thục, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm TP.HCM, cơ cấu tuyển dụng theo độ tuổi cho thấy thị trường vẫn ưu tiên nhóm lao động trẻ. Đây là nhóm có khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu công việc và môi trường sản xuất kinh doanh năng động.
Trong quý 1/2026, trung tâm thu thập được 82.762 vị trí việc làm trống từ nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp; 52.641 người lao động có nhu cầu tìm việc làm. Điều này cho thấy nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp trên địa bàn duy trì ở mức cao.
Vì thế, quý 2/2026, trung tâm dự đoán các doanh nghiệp vẫn có xu hướng mở rộng và linh hoạt hơn trong tiêu chí tuyển dụng, nhằm thích ứng với tình trạng hạn chế về nguồn cung lao động.
Riêng về tiêu chí giới tính, phần lớn nhu cầu tuyển dụng không đặt ra yêu cầu phân biệt nam hay nữ. Cụ thể, hơn 91% tương ứng 75.527 vị trí không yêu cầu giới tính. Trong khi đó, nhu cầu chỉ tuyển nam chiếm 5,23% và chỉ tuyển nữ chiếm 3,51%. Điều này cho thấy doanh nghiệp ngày càng ưu tiên năng lực và khả năng đáp ứng công việc hơn là các yếu tố nhân khẩu học.