Thông điệp trên được lãnh đạo Vinamilk nêu tại đại hội cổ đông thường niên sáng 22/4. Theo bà Liên, trường hợp xu hướng tăng kéo dài, công ty sẽ điều chỉnh theo lộ trình, tránh tăng đột biến và mức tăng dự kiến chỉ khoảng 2-3% nhằm hạn chế tác động đến người tiêu dùng.
Triển vọng sức mua cũng là vấn đề được nhiều cổ đông quan tâm sáng nay khi ngành sữa đang trong xu hướng giảm, dù tiêu dùng chung đã có dấu hiệu phục hồi.
Bà Mai Kiều Liên, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (VNM), cho biết ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) quý I đã cải thiện, tăng 4,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Tuy nhiên, riêng ngành sữa vẫn tăng trưởng âm khoảng 3,7%.
“Nếu không có yếu tố đột biến theo hướng tích cực, trong khi các biến động địa chính trị vẫn khó lường, sức mua sẽ khó có động lực để tăng mạnh trở lại”, bà nói. Dù vậy, nếu doanh nghiệp duy trì được đà tăng trưởng hiện tại, Vinamilk kỳ vọng có thể góp phần kéo thị trường này tăng khoảng 1,5-2% năm nay.
Bức tranh sức mua yếu cũng phản ánh rõ trong năm 2025 – giai đoạn được lãnh đạo doanh nghiệp nhìn nhận là “năm thử lửa”. Ngành sữa chịu áp lực khi nhu cầu giảm 2,4%, chi phí đầu vào tăng và cạnh tranh gay gắt, trong khi Vinamilk đồng thời triển khai tái cấu trúc nội bộ. Dù tạo áp lực ngắn hạn, quá trình này được doanh nghiệp xem là cần thiết để củng cố năng lực cạnh tranh dài hạn.
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp vẫn duy trì tăng trưởng ổn định. Doanh thu hợp nhất của công ty đạt 63.724 tỷ đồng, tăng 3,1% so với cùng kỳ và là mức cao nhất từ trước đến nay. Lợi nhuận trước thuế đạt 9.414 tỷ đồng, gần tương đương năm 2024. Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp đạt 9.414 tỷ đồng, giảm nhẹ do ảnh hưởng từ quý I nhưng cải thiện dần qua các quý sau; EPS đạt 4.028 đồng.
Năm nay, Vinamilk đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất 66.477 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 9.828 tỷ đồng, tăng khoảng 4% so với năm trước, trong bối cảnh thị trường được dự báo phục hồi chậm.
Hết quý I, hãng ghi nhận doanh thu hợp nhất 16.178 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế hơn 2.458 tỷ đồng, tăng lần lượt 24,7% và gần 55% so với cùng kỳ 2025.
Về phân phối lợi nhuận, cổ đông thông qua mức cổ tức tiền mặt năm 2025 là 43,5% (4.350 đồng mỗi cổ phiếu). Công ty đã tạm ứng 25% trước đó, phần còn lại 18,5% sẽ được HĐQT quyết định thời điểm chi trả trong vòng 6 tháng kể từ ngày 22/4. Với năm 2026, doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tiền mặt tối thiểu 50% lợi nhuận sau thuế, linh hoạt theo kết quả kinh doanh thực tế.
Trước băn khoăn của cổ đông về việc thị giá cổ phiếu VNM ở mức thấp, bà Mai Kiều Liên cho rằng giá cổ phiếu phụ thuộc vào cung – cầu thị trường, kết quả kinh doanh và triển vọng phát triển bền vững của doanh nghiệp. “Không chỉ riêng Vinamilk, nhiều cổ phiếu khác cũng giảm theo diễn biến chung của thị trường”, bà nói, đồng thời nhấn mạnh cổ tức hiện tại vẫn được duy trì ở mức hấp dẫn.
Ở góc độ vận hành, căng thẳng Trung Đông khiến hoạt động xuất khẩu chịu áp lực khi thời gian vận chuyển kéo dài và chi phí logistics tăng. Vinamilk đã điều chỉnh tuyến vận chuyển, phối hợp với đối tác để đảm bảo tiến độ giao hàng, đồng thời làm việc với nhà cung cấp nhằm ổn định nguồn nguyên liệu. Về dài hạn, doanh nghiệp tiếp tục đa dạng hóa thị trường và nguồn cung để giảm phụ thuộc.
Tại thị trường quốc tế, Trung Đông vẫn là khu vực truyền thống, đóng góp khoảng 7,7% doanh thu hợp nhất của VNM, duy trì tăng trưởng hai chữ số trong năm 2025 và quý I/2026. Trong khi đó, Trung Quốc ghi nhận mức tăng trưởng trên 20%, nhờ các sản phẩm được phát triển riêng theo thị hiếu tiêu dùng.
Song song hoạt động kinh doanh, đại hội cũng thông qua việc miễn nhiệm thành viên HĐQT đối với ông Alain Xavier Cany theo đơn từ nhiệm, đồng thời lên kế hoạch bầu bổ sung nhân sự khi số lượng hiện tại thấp hơn mức tối đa theo quy định. Doanh nghiệp cũng điều chỉnh, bổ sung một số ngành nghề kinh doanh theo quy định mới, mở rộng sang lĩnh vực bán lẻ và công nghệ thông tin.
Về triển vọng dài hạn, lãnh đạo Vinamilk đánh giá thị trường sữa Việt Nam vẫn còn dư địa tăng trưởng nhờ quy mô dân số lớn và xu hướng già hóa, kéo theo nhu cầu dinh dưỡng ngày càng cao. Các phân khúc như sữa thực vật, dinh dưỡng người lớn, sản phẩm bổ sung lợi khuẩn hay dòng cao đạm được dự báo tăng trưởng tốt hơn mặt bằng chung, trong khi các ngành hàng truyền thống tiếp tục duy trì mức tăng ổn định.
Vinamilk cho biết sẽ tiếp tục đầu tư vào hệ thống sản xuất, phân phối, mở rộng quy mô đàn bò và nâng cao năng lực quản trị nhằm củng cố nền tảng tăng trưởng bền vững trong những năm tới.
Quý I, Việt Nam xuất khẩu khoảng 590.500 tấn cà phê, thu về 2,75 tỷ USD, tăng 12,5% về lượng nhưng giảm 7,1% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Nguyên nhân giá xuất khẩu bình quân mặt hàng này khoảng 4.657 USD một tấn, giảm 17,6%. Trên thị trường nội địa, giá cà phê Robusta tuần qua cũng xuống quanh 85.000-86.000 đồng một kg, thấp hơn khoảng 35% so với cùng kỳ năm ngoái, mức thấp nhất 3 năm qua.
Diễn biến tương tự xảy ra với gạo khi xuất khẩu 3 tháng đầu năm đạt khoảng 2,3 triệu tấn, tương đương 1,11 tỷ USD, gần như đi ngang về lượng nhưng giảm 7,8% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 480 USD một tấn, giảm 8%, trong đó đã bao gồm các dòng gạo thơm và chất lượng cao. Trong khi đó, giá giao dịch phổ biến của gạo 5% tấm còn quanh 360-365 USD một tấn, cho thấy mặt bằng giá thực tế vẫn ở mức thấp.
Đằng sau xu hướng này là áp lực dư cung ngày càng rõ rệt trên thị trường toàn cầu. Với cà phê, sản lượng năm 2026 được dự báo vượt nhu cầu khoảng 10 triệu bao khi các quốc gia sản xuất lớn đồng loạt được mùa. Brazil - nước xuất khẩu lớn nhất thế giới - chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch từ giữa năm với sản lượng dự kiến tăng mạnh, trong khi tồn kho trên các sàn quốc tế đang đi lên, khiến các nhà rang xay hạn chế mua vào.
Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), cho rằng thị trường đang phản ứng trước kỳ vọng nguồn cung tăng nhanh, trong khi nhu cầu chưa có dấu hiệu cải thiện tương ứng. Bên cạnh đó, các yếu tố tài chính và địa chính trị cũng khiến giá biến động mạnh hơn, khi dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường sau giai đoạn tăng nóng.
Áp lực giá không chỉ đến từ cung - cầu mà còn lan sang hoạt động thương mại. Chi phí vận chuyển và đầu vào vẫn ở mức cao khiến doanh nghiệp thận trọng hơn trong giao dịch. Một số đơn vị cho biết cước vận chuyển sang châu Âu tăng gấp đôi, buộc họ phải xuất khẩu cầm chừng, kéo theo nhu cầu thu mua trong nước suy yếu.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo giảm chủ yếu do cung toàn cầu tăng mạnh trong khi nhu cầu chững lại. Việc nhiều quốc gia sản xuất lớn được mùa, cùng với một số nước dỡ bỏ hạn chế xuất khẩu, khiến thị trường rơi vào trạng thái dư cung và cạnh tranh ngày càng gay gắt. Bên cạnh đó, các thị trường nhập khẩu lớn tại châu Á có xu hướng giảm mua hoặc giãn tiến độ nhập khẩu, tạo thêm áp lực lên mặt bằng giá.
Dữ liệu từ Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), niên vụ 2025-2026, thị trường gạo toàn cầu tiếp tục ở trạng thái nguồn cung dồi dào khi sản lượng duy trì ở mức cao tại các nước sản xuất lớn. Điều này khiến cạnh tranh xuất khẩu gia tăng và gây áp lực lên giá.
Ở góc độ rộng hơn, các tổ chức quốc tế cũng cho thấy xu hướng tương tự. Dự báo của FAO cho thấy sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2025-2026 có thể đạt khoảng 563,4 triệu tấn, tăng 2,1% và lập kỷ lục mới.
Thực tế, một số thị trường như Trung Quốc tăng mua, nhưng mức tăng chưa đủ bù đắp cho xu hướng giá chung đi xuống. Philippines vẫn là khách hàng lớn nhất, chiếm hơn một nửa thị phần, tuy nhiên mức giá nhập khẩu không còn cao như trước.
Trong ngắn hạn, triển vọng của hai mặt hàng gạo và cà phê vẫn phụ thuộc lớn vào diễn biến cung - cầu toàn cầu. Với gạo, mặt bằng giá nhiều khả năng duy trì ở mức thấp nếu nguồn cung tiếp tục dồi dào. Trong khi đó, với cà phê, nguồn cung từ Brazil và Indonesia dự kiến tiếp tục gây áp lực trong quý II, còn nhu cầu tại EU và Mỹ phục hồi chậm. Yếu tố thời tiết, đặc biệt nguy cơ El Nino quay trở lại, có thể trở thành biến số lớn nhưng tác động rõ nét hơn từ cuối năm.
Khi giá xuất khẩu bình quân của cả cà phê và gạo cùng đi xuống, tăng trưởng kim ngạch thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào sản lượng, khiến dư địa cải thiện giá trị xuất khẩu trở nên hạn chế, theo các chuyên gia.
Theo Sacombank, đây là các quyết định quan trọng nhằm tiếp tục kiện toàn đội ngũ lãnh đạo cấp cao, nâng cao năng lực quản trị và chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới theo hướng hiệu quả, bền vững và thận trọng.
Hội đồng quản trị ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp của ông Nguyễn Đức Thụy trong thời gian trực tiếp đảm nhiệm cương vị Tổng giám đốc, đặc biệt trong công tác kiện toàn tổ chức và thúc đẩy tiến độ xử lý các nội dung trọng tâm của đề án tái cơ cấu.
Dưới sự điều hành của ông Nguyễn Đức Thụy, Sacombank đã triển khai nhiều quyết sách quan trọng như tinh gọn cơ cấu tổ chức, sắp xếp bộ máy theo ngành dọc với 9 khối nghiệp vụ, điều chỉnh cơ cấu nhân sự theo hướng tăng tỉ trọng lực lượng kinh doanh, qua đó tập trung nguồn lực cho tăng trưởng.
Đồng thời ngân hàng cũng tăng cường lực lượng bán hàng trực tiếp, nâng cao năng lực phục vụ khách hàng, tối ưu chi phí vận hành, thúc đẩy số hóa quy trình và củng cố công tác quản trị nội bộ. Bên cạnh đó, Sacombank cũng công bố bộ nhận diện thương hiệu mới theo hướng trẻ trung, hiện đại hơn, phù hợp với chiến lược phát triển trong giai đoạn mới.
Trên cơ sở đó, Hội đồng quản trị thống nhất giao ông Nguyễn Đức Thụy đảm nhiệm cương vị Phó chủ tịch thường trực Hội đồng quản trị, trực tiếp phụ trách công tác chỉ đạo chiến lược, quản trị cấp cao và định hướng phát triển dài hạn của ngân hàng.
Ông Thụy được kỳ vọng sẽ tiếp tục cùng ban lãnh đạo thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng vững chắc để Sacombank bước vào giai đoạn phát triển mới.
Cũng tại cuộc họp này, Hội đồng quản trị Sacombank thống nhất bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức quyền Tổng giám đốc, phụ trách điều hành hoạt động của ngân hàng theo đúng quy định hiện hành.
Việc bổ nhiệm ông Loic Faussier thể hiện định hướng nhất quán của Sacombank trong việc thu hút đội ngũ nhân sự cấp cao có kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực quản trị rủi ro và tuân thủ.
Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu, củng cố nền tảng an toàn tài chính, đồng thời bảo đảm định hướng hiệu quả, bền vững và thận trọng trong giai đoạn tới.
Sacombank công bố giảm lãi suất huy động và cho vay, với mức giảm 0,5%/năm nhiều kỳ hạn từ ngày 10-4.
"Việc điều chỉnh áp dụng đồng thời cả chiều huy động và cho vay phản ánh cách tiếp cận hài hòa của Sacombank trong việc cân đối quyền lợi hợp lý của người gửi tiền và giảm bớt áp lực chi phí vốn cho người vay, đặc biệt là nhóm khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ", đại diện Sacombank cho biết.
Vietcombank giảm lãi suất tiền gửi kỳ hạn 24 tháng xuống còn 6%/năm, áp dụng từ ngày 13-4. Các kỳ hạn khác sẽ tiếp tục được Vietcombank rà soát, điều chỉnh phù hợp.
BVBank cũng giảm lãi suất huy động với mức giảm từ 0,3% đến 0,5%/năm, tùy theo kỳ hạn, bắt đầu từ ngày 11-4. Cụ thể kỳ hạn từ 6-12 tháng lãi suất huy động giảm 0,3%/năm, còn kỳ hạn từ 15-36 tháng lãi suất huy động giảm 0,5%/năm.
Song song với việc giảm lãi suất huy động, BVBank cho biết sẽ tiếp tục tối ưu chi phí vốn, hướng tới giảm lãi suất vay, hỗ trợ khách hàng tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý hơn để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần ổn định thị trường tài chính - tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tại VPBank, lãi suất huy động đối với khách hàng cá nhân giảm ở nhiều kỳ hạn. Cụ thể, với các kỳ hạn gửi tiết kiệm trực tuyến từ 6 tháng trở lên, mức giảm từ 0,3-0,5/năm. Mức lãi suất cao nhất áp dụng cho khoản tiền gửi từ 1 tỉ đồng, kỳ hạn từ 10 tháng trở lên, là 6,6%/năm, trong khi trước đó là 7,1%/năm.
ABBank cũng giảm lãi suất huy động với mức 0,5%/năm ở nhiều kỳ hạn sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước, nhằm tạo dư địa giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn.
Tại Ngân hàng Đông Nam Á (SeABank), lãi suất huy động giảm 0,5%/năm với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, áp dụng cho các khoản tiền gửi mới trên toàn hệ thống từ ngày 10-4.
Đại diện SeABank cho biết việc giảm lãi suất huy động lần này là một phần trong cam kết của SeABank nhằm góp phần hỗ trợ phục hồi kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng bền vững, hài hòa lợi ích giữa phát triển kinh doanh và đồng hành cùng khách hàng.
Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) cũng giảm lãi suất cho vay tới 1%/năm đối với cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, đồng thời hạ lãi suất huy động tối đa 0,5%/năm.