Đầu năm nay, tôi chính thức nghỉ việc ở cơ quan, nơi bản thân đã gắn bó suốt bốn năm, quãng thời gian đủ dài để một người trẻ từ chỗ non nớt trở nên quen việc, từ nhân viên mới thành người có tiếng nói nhất định trong phòng. Tôi rời đi ở tuổi 26, mang theo nhiều tiếc nuối nhưng cũng không ít bài học. Nếu phải chọn một điều khiến tôi thay đổi nhiều nhất, đó chính là lần bị sếp mắng thẳng thừng giữa áp lực công việc chồng chất.
Bốn năm trước, khi mới ra trường, tôi bước vào công ty với sự tự tin và kỳ vọng lớn. Tôi tin rằng chỉ cần chăm chỉ, nỗ lực sẽ được ghi nhận. Những năm đầu, tôi làm việc hết mình. Tôi không ngại tăng ca, không ngại nhận thêm việc. Có những tối 21-22h tôi mới rời văn phòng, lòng thấy vui vì nghĩ mình xây nền móng cho tương lai. Thế nhưng công việc không phải lúc nào cũng đi theo đường thẳng.
Sau vài năm, khi vị trí cao hơn đồng nghĩa với trách nhiệm nhiều hơn, tôi bắt đầu cảm nhận rõ áp lực; chỉ tiêu tăng, yêu cầu khắt khe hơn, trong khi nguồn lực vẫn vậy. Những bản báo cáo dày lên, những deadline dồn dập, những cuộc họp kéo dài khiến tôi dần kiệt sức. Sếp là người nóng tính. Anh yêu cầu cao và ít khi hài lòng. Nếu phòng ban đạt thành tích, đó là điều “đương nhiên phải làm được”. Chỉ cần một chỉ số giảm sút, anh sẵn sàng gọi nhân viên vào phòng để nhắc nhở gay gắt. Không khí trong phòng làm việc lúc nào cũng căng như dây đàn.
Ban đầu, tôi nghĩ đó là phong cách quản lý nghiêm khắc. Tôi tự nhủ phải mạnh mẽ hơn. Lâu dần, tôi nhận ra sự nghiêm khắc ấy đi kèm với thái độ cáu gắt, thờ ơ và thiếu chia sẻ. Chúng tôi hiếm khi được hỏi rằng có đang quá tải hay không, mọi thứ xoay quanh kết quả. Trong trạng thái mệt mỏi ấy, tôi bắt đầu thay đổi theo chiều hướng tiêu cực. Có những ngày tôi mở máy tính nhưng không đủ động lực để bắt đầu. Tôi nhìn vào danh sách việc cần làm và cảm thấy ngộp thở. Thay vì giải quyết từng việc một, tôi chọn cách dễ nhất: lướt điện thoại. Ban đầu chỉ là vài phút “giải lao”, rồi vài phút ấy kéo dài thành nửa giờ. Tôi tự biện minh rằng mình cần thư giãn để đầu óc tỉnh táo hơn. Thực tế, tôi đang trì hoãn. Công việc chưa hoàn thành, deadline vẫn ở đó, còn tôi ngày càng lo lắng.
Rồi một ngày, khi báo cáo tôi phụ trách bị trễ và có sai sót, sếp gọi tôi vào phòng. Anh không hỏi lý do, chỉ nói tôi thiếu trách nhiệm, thiếu tập trung, không chuyên nghiệp. Anh nhắc đến việc tôi thường xuyên cầm điện thoại trong giờ làm. Những lời nói ấy như một cú tát vào lòng tự trọng của tôi. Tôi bước ra khỏi phòng với đôi tay run nhẹ. Tôi vừa xấu hổ vừa tức giận, cảm thấy mình bị phủ nhận hoàn toàn, như thể bốn năm cố gắng trước đó chưa từng tồn tại. Tôi kể với bạn bè, nhiều người bênh vực, cho rằng sếp quá đáng, môi trường độc hại. Khi cơn giận qua đi, tôi buộc phải đối diện với một sự thật: mình không hoàn toàn vô tội. Đúng là sếp tôi nóng tính, môi trường nhiều áp lực, thế nhưng việc tôi lướt điện thoại trong giờ làm, trì hoãn nhiệm vụ, để công việc chậm tiến độ là lỗi của tôi. Dù có bao nhiêu lý do đi nữa, tôi vẫn là người chịu trách nhiệm cho kết quả của mình.
Lần bị mắng đó giống như chiếc gương soi thẳng vào sự thiếu kỷ luật của tôi. Tôi nhận ra khi áp lực tăng lên, thay vì tìm cách thích nghi, tôi lại chọn cách trốn tránh. Tôi mong được thấu hiểu nhưng lại chưa thực sự hoàn thành tốt phần việc của mình. Sau sự việc ấy, tôi rơi vào trạng thái căng thẳng kéo dài. Mỗi lần điện thoại rung thông báo email là tôi giật mình. Tôi đi làm trong tâm thế phòng thủ, sợ mắc lỗi. Mối quan hệ giữa tôi và sếp trở nên lạnh nhạt. Tôi không còn tìm thấy động lực để cố gắng ở môi trường đó nữa.
Đầu năm nay, tôi quyết định nghỉ việc. Quyết định ấy không dễ dàng, bốn năm là cả thanh xuân, rồi tôi hiểu rằng nếu tiếp tục ở lại trong tâm thế tiêu cực, sẽ không thể phát triển. Sang cơ quan mới, tôi không mang theo sự oán trách, chỉ mang theo bài học. Ở nơi làm việc mới, tôi cũng đối diện với áp lực nhưng thay đổi cách phản ứng. Tôi đặt điện thoại ở chế độ im lặng và để xa tầm tay trong giờ làm. Tôi chia nhỏ công việc thành từng phần, hoàn thành từng bước thay vì nhìn vào tổng thể khổng lồ mà nản chí. Tôi cũng học cách trao đổi thẳng thắn hơn. Khi cảm thấy quá tải, tôi chủ động báo với cấp trên để xin hỗ trợ thay vì im lặng chịu đựng. Tôi hiểu rằng giao tiếp là một kỹ năng quan trọng không kém chuyên môn.
Ở tuổi 26, tôi nhận ra trưởng thành không phải là không mắc sai lầm mà là biết rút kinh nghiệm từ sai lầm đó. Tôi không còn nhìn lần bị mắng như một vết thương mà xem nó như một bước ngoặt. Tôi vẫn tin rằng một người lãnh đạo tốt cần biết truyền cảm hứng thay vì chỉ trích, văn hóa doanh nghiệp tích cực sẽ giúp nhân viên phát huy tối đa năng lực. Tôi cũng hiểu rằng, dù môi trường có hoàn hảo đến đâu, nếu bản thân thiếu kỷ luật và trách nhiệm, tôi sẽ gặp vấn đề. Áp lực công việc là điều không thể tránh khỏi trong xã hội hiện đại. Thế hệ trẻ như tôi thường nói nhiều về “burnout”, cân bằng cuộc sống, điều đó không sai. Thế nhưng bên cạnh việc yêu cầu môi trường tốt hơn, chúng ta cũng cần tự hỏi mình đã đủ chuyên nghiệp hay chưa. Lần bị sếp mắng ở tuổi 26 khiến tôi đau nhưng cũng khiến tôi tỉnh táo. Tôi hiểu danh dự nghề nghiệp được xây dựng từ những việc nhỏ nhất: đúng giờ, hoàn thành nhiệm vụ, tập trung trong giờ làm. Không ai có thể thay tôi xây dựng uy tín của mình.
Bây giờ, khi nhìn lại, tôi không còn cảm thấy oán giận. Tôi biết ơn trải nghiệm ấy. Nếu không có lần bị mắng đó, có lẽ tôi vẫn tiếp tục trôi theo thói quen trì hoãn, tiếp tục đổ lỗi cho hoàn cảnh. Tuổi 26 của tôi từng có một cú sốc, rồi chính cú sốc ấy giúp tôi hiểu rằng sự nghiệp là hành trình dài. Sẽ có những lần vấp ngã, những lần bị phê bình, quan trọng là sau mỗi lần như vậy, ta chọn cách trưởng thành hay tiếp tục trách móc. Tôi đã chọn trưởng thành, đó có lẽ là bài học quý giá nhất mà công việc cũ để lại cho tôi.
Nhân đọc bài viết: Lo vợ gặp lại bạn trai cũ nếu tham gia hội khóa, tôi muốn xin ý kiến về việc chồng tôi cũng sắp có kỷ niệm tròn 20 năm ra trường cấp ba và góp quỹ 500 nghìn đồng (đã góp ba lần và khi nào hết sẽ góp tiếp cho tới hết đời). Số quỹ đó dùng để chi tiêu thăm hỏi cho những người bạn có hoạt động và sinh sống ở quê nhà. Hơn năm năm quen chồng, tôi chưa từng gặp bạn cấp ba của anh và vợ chồng tôi đã chuyển nơi ở cách quê nhà 1.800 km. Những năm góp quỹ, bố chồng tôi ốm thập tử nhất sinh ngoài quê, không được hỏi thăm từ nhóm bạn cấp ba này, lý do của chồng tôi là bố chồng ở xa (khoảng 30 km) và do chồng tôi không nói.
Đặc biệt hơn hết, suốt những năm là vợ chồng, khi khó khăn, tôi chưa thấy chồng có thể nhờ vả được bạn bè của anh. Tôi từng là lớp trưởng thời cấp ba, cũng được bạn cũ đưa vào nhóm nhưng tuyệt nhiên không bao giờ góp quỹ, chỉ khi nào tôi thấy có bạn nhắn lên nhóm rằng có nhà bạn A, B, C có tang sự, tôi mới gửi tiền nhờ các bạn hỏi thăm giúp.
Tôi có nói với chồng: Với một người đã rời khỏi quê hương, đi xa sinh sống và đã 17 năm kể từ khi ra trường thì việc lập một nhóm quỹ như vậy là không nên. Ai cũng có gia đình rồi, khi đi học đã hoàn thành trách nhiệm của một người lãnh đạo, một người học sinh, việc quan trọng nhất là gia đình hiện tại và bạn bè xung quanh. Chồng nói tôi là người thế này thế nọ, ý kiến sai trái, rồi nói không góp sau khó nhìn mặt bạn bè. Vậy xin các anh chị độc giả cho ý kiến về trường hợp nhà tôi. Xin cảm ơn các độc giả.
Có những cuộc hôn nhân không tan vỡ vì phản bội, không phải vì bạo lực, cũng không phải vì thiếu tiền, mà tan vỡ vì giống như hai đường thẳng song song, cùng tồn tại nhưng không bao giờ gặp nhau. Người phụ nữ trong cuộc hôn nhân ấy không thiếu trách nhiệm. Cô ấy đi làm, chăm con, lo từng việc nhỏ trong nhà., đưa đón con đi học, nấu nướng, dọn dẹp, kèm con học bài. Ngay cả khi không còn đi làm, cô ấy vẫn gánh phần việc mà nếu thuê ngoài, cũng phải trả bằng tiền.
Đã tám năm rồi, cô ấy học cách tự mạnh mẽ, tự xoay xở, tự chịu đựng. Cô ấy tự tạo niềm vui cho mình bằng những điều rất nhỏ: mua cho con gái quyển sách, mua cho bản thân bộ đồ mới, tặng mình một cây son, một chai nước hoa nhỏ... Lâu dần, cô ấy không còn biết dựa vào ai và cũng không còn biết mình cần ai nữa. Có một giai đoạn, người phụ nữ ấy ở nhà chăm con nhỏ, nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ. Trong suốt quãng thời gian đó, cô ấy chưa từng được mua cho một bữa ăn ngon, chưa từng được chuyển cho 500 nghìn hay một triệu đồng vào tài khoản cùng một câu rất bình thường: "Em thích ăn gì thì mua". Không phải vì gia đình thiếu tiền, mà vì nhu cầu của cô ấy không được xem là cần thiết.
Khi mẹ chồng vào phụ chăm cháu để cô ấy đi làm lại, thứ cô ấy nhận được không phải là sự cảm thông, mà là lời nhắc: "Liệu cơm gắp mắm". Cô ấy bị mặc định là người tiêu xài hoang phí. Bữa cơm cho ba người lớn chỉ có: rau lang luộc, nước luộc làm canh và một con cá nục chiên. Trong ba người ấy, có một người phụ nữ đang nuôi con bằng sữa mẹ.
Chồng cô ấy là một người tử tế theo cách của riêng anh ta. Anh ta đi làm, kiếm tiền, chi trả tiền nhà, tiền ăn uống sinh hoạt, tiền học của con. Đi làm về, ăn cơm, rửa chén. Nhưng không chia sẻ, không đồng hành, không động viên, không khích lệ, không muốn đi đâu, không muốn thay đổi. Họ khác nhau không phải ở mức thu nhập mà ở cách nhìn về cuộc sống. Một người tin rằng: sống là để trải nghiệm, để học hỏi, để tiến lên, để cùng nhau tạo ký ức, để đi đâu đó khi còn có thể. Người kia tin rằng: sống là khép cửa thật chặt để không mất mát gì, kể cả những điều đáng ra phải có.
Với anh ta, chia sẻ không phải là một giá trị, mà là một khoản phải cân nhắc. Hưởng thụ chỉ được phép xảy ra khi đã dư dả tuyệt đối, còn không thì tốt nhất là giữ chặt mọi thứ trong tay. Vì vậy, không có những chuyến đi chung, không có những ngày lễ được nhớ, không có những món quà nhỏ như một cách yêu thương, chiều chuộng, không có những điều bé xíu để mong chờ. Ngay cả hộ chiếu hết hạn cũng không muốn làm lại, vì sợ... đi đâu đó cho tốn tiền.
Mẹ của người phụ nữ ấy mất. Trong những ngày đau buồn nhất đời mình, cô ấy không có bờ vai để tựa, không một cái ôm để khóc, không một câu nói đủ sức giữ cô ấy khỏi sụp xuống, không một câu: "Để anh lo". Nỗi mất mát ấy, cô ấy một mình đi qua trong im lặng. Những chuyến tàu, chuyến bay về quê lo cúng thất cho mẹ, cô ấy tự chi trả. Anh ta thấy cô xoay xở được đến đâu thì để mặc đến đó. Cô ấy dùng tiền trợ cấp thất nghiệp để lo tang mẹ. Còn anh ta, vẫn đi làm, vẫn nhận lương đều đặn mỗi tháng, không có thái độ: "Mọi thứ để anh lo"; không có ý nghĩ: "Đây là lúc vợ mình cần được đỡ đần nhất", chỉ có sự im lặng.
Khi cô về quê làm lễ cúng 21 ngày cho mẹ, trùng vào một ngày giỗ bên nhà chồng, cô nhắn mình không thể qua, anh ta không nói "để anh lo" hay "em cứ yên tâm lo cho mẹ", mà bảo: "Gọi về nói khéo với ba mẹ anh một tiếng". Cô lặng đi. Trong những ngày đau buồn nhất, khi cô còn chưa kịp gượng lại sau mất mát, điều anh ta nghĩ đến vẫn là sự tròn vẹn của lễ nghĩa bên nhà mình.
Cuộc hôn nhân ấy dần trở thành một nơi ở chung, chứ không còn là cùng nhau đồng hành. Người phụ nữ ấy nhận ra mình không buồn vì thiếu vật chất mà vì thiếu một người sống cùng mình. Sống lâu bên một người như vậy, cô ấy hiểu ra bản thân đang héo mòn. Anh ta đặt tiền lên trên trải nghiệm sống, không xem hạnh phúc gia đình là khoản cần đầu tư, không có khái niệm hưởng thụ cùng vợ con. Và điều đau nhất không phải là thiếu quà vì một cây son không đắt, một lần chuyển tiền không làm anh ta nghèo đi, mà một câu: "Em vất vả rồi" không tốn tiền. Ngay cả sinh nhật của cô cũng không một món quà. Không một thỏi son, một hũ kem, không một bó hoa hay chỉ là một cành hoa. Những thứ đó không đắt nhưng đủ để một người phụ nữ biết mình được nghĩ tới.
Ngay cả việc dạy con tự tay chọn món quà nhỏ cho mẹ, anh ta cũng chưa từng làm. Không phải anh ta không có tiền, mà vì trong thế giới của anh ta, những điều đó chưa bao giờ là cần thiết. Cô ấy từng không hiểu mình thua kém những người phụ nữ khác ở đâu nhưng rồi nhận ra bản thân không thua kém ai, chỉ là đặt trái tim nhầm chỗ. Điều đau nhất là anh ta không hề thấy cô ấy đang thiệt thòi. Khi một người có tiền, có khả năng nhưng chọn không cho đi thì đó không phải là hoàn cảnh, mà là giá trị sống. Ly hôn trong trường hợp đó chỉ dừng lại trước khi bản thân cạn kiệt hoàn toàn, không ai sai, chỉ là hai người không cùng một hướng sống. Và đôi khi, yêu thương bản thân chính là dám bước ra khỏi cuộc hôn nhân khi nó không còn là "nhà" nữa.
Cô ấy chưa bao giờ ghét cái nghèo. Từ nhỏ đến lớn, cô ấy được ba mẹ nuôi nấng, yêu thương, không dư dả nhưng cũng chưa từng thiếu thốn và càng không bị dạy phải sống trong nỗi sợ mất mát. Nhưng kể từ ngày chung sống với anh ta, cô ấy bắt đầu sợ rồi ghét cái nghèo. Không chỉ là nghèo về vật chất, mà nghèo trong tư duy, nhận thức, trong khả năng mở lòng và cho đi. Một kiểu nghèo khiến người ta luôn thu mình lại, co rút trước mọi trải nghiệm, tính toán cả với những điều đáng ra không nên cân đo. Nghèo tiền có thể cùng nhau vượt qua nhưng nghèo tư duy là thứ âm thầm rút cạn một người cho đến khi họ không còn là chính mình nữa.
Em chưa từng biết đến khái niệm khắc cốt ghi tâm cho đến khi gặp anh. Ngày đầu anh nhắn tin làm quen, tin nhắn đặc biệt hơn hết thảy những tin nhắn em từng nhận, rồi em trả lời. Sau đó là những cuộc trò chuyện mà cả hai đều có cảm giác thân thuộc như quen biết nhau từ kiếp nào. Cả anh và em đều tin vào định mệnh, tin có kiếp trước kiếp sau, luôn tìm kiếm một tâm hồn đồng điệu, một linh hồn song sinh đang bị thất lạc ở nhân gian.
Ngày em phát hiện anh là bác sĩ gây mê chứ không phải là bác sĩ phẫu thuật như anh giới thiệu ban đầu, tình yêu em dành cho anh còn nhiều hơn trước. Ngay khi biết anh là bác sĩ gây mê, em đã hỏi anh: tại sao anh là bác sĩ gây mê mà lại giới thiệu mình là bác sĩ phẫu thuật? Anh trả lời: anh giới thiệu thế để em dễ hình dung công việc anh làm. Thế anh có biết, em từng yêu một bác sĩ pháp y trong truyện không? Em vốn trân quý những công việc thầm lặng, em không ham hố hào quang của một vị bác sĩ, anh biết không? Anh lại trả lời: nếu anh biết em từng yêu bác sĩ pháp y thì sẽ không giới thiệu mình là bác sĩ phẫu thuật rồi (cười).
Anh có biết, em vốn trân quý những công việc mang tính thầm lặng không? Thế nên bác sĩ pháp y và bác sĩ gây mê là hai chuyên ngành được em vô cùng trân quý bởi công việc thầm lặng. Bác sĩ gây mê luôn đối diện với áp lực cực kỳ cao, trước và sau mổ còn phải làm bác sĩ tâm lý cho bệnh nhân, thế nhưng hào quang thì không bao giờ xuất hiện, họ luôn vô hình trong mắt truyền thông và đám đông dân chúng. Phần đa người bệnh phải mổ vốn đều không biết đến công lao của bác sĩ gây mê, không biết đến chuyện sống chết của mình trong lúc đang mê man để được giải phẫu, công sức của bác sĩ gây mê là rất lớn.
Nghe em nói về những chuyện mà bác sĩ gây mê phải làm, anh chỉ biết thốt lên: em thấu hiểu công việc anh làm còn nhiều hơn cả đồng nghiệp của anh. Em nói đúng, công việc của anh luôn phải đi sớm nhất và về trễ nhất, luôn vô hình trong mắt người khác nhưng anh vẫn rất vui mỗi khi ca mổ thành công, anh không cần hào quang vì anh yêu thích công việc mình đang làm.
Có lần em hỏi anh: trong hàng trăm bức ảnh và clip anh chia sẻ ở trang cá nhân, tuyệt nhiên không có tấm ảnh mà anh gửi cho em và cũng chỉ có duy nhất tấm ảnh đó là khiến em bị ám ảnh nhất bởi thần thái ma mị và cực kỳ quyến rũ của chàng bác sĩ trong bộ đồ phòng mổ. Anh bảo: muốn cho riêng em nhìn thấy một phần con người khác của anh, điều mà anh không muốn chia sẻ với bất kỳ ai.
Đôi lúc, em quên mất anh là người nước ngoài. Anh dùng Google dịch để trò chuyện với em, và bởi vì hiểu ý nhau nên khi đó những câu từ dịch từ Anh sang Việt cũng gần giống như là tiếng Việt hoàn toàn.
Điều khiến tim em nhói đau chính là phát hiện thêm sự thật: biết anh còn là một sĩ quan. Một bác sĩ quân y hoàn toàn khác so với bác sĩ dân sự. Là một bác sĩ quân y đồng nghĩa anh hoàn toàn không còn được tự do đi lại, được tự do đến gặp một cô gái sống cách xa mình nửa vòng trái đất.
Em từng bảo anh rằng: hay mình dừng lại đi anh. Hai chúng ta hãy trở lại như buổi ban đầu, như lúc anh vẫn còn dùng nick ảo để trò chuyện với em. Lúc đó, chẳng phải anh đã bảo rằng: muốn đi tìm một người bạn tri kỷ để trò chuyện, để được là một người đàn ông bình thường, được là chính mình với những ưu khuyết điểm mà không bị phán xét.
Dạo này chiến sự thế giới đang nổ ra và em biết rằng sự thật không thể thay đổi: anh là một sĩ quan, còn em chỉ có thể yêu chàng bác sĩ gây mê. Khi biết em mang theo nhiều bất an, lo lắng, anh đã bảo rằng: đừng lo lắng nhiều quá. Đừng quan tâm anh là sĩ quan hay bác sĩ, hãy cứ để vũ trụ vận hành em ạ.
Tình yêu online mang đến cho ta thật nhiều cảm xúc. Tuy chưa gặp ngoài đời nhưng cảm xúc lại rất mãnh liệt. Những dòng thơ em làm tặng anh sau ngày nhìn thấy tấm ảnh anh gửi, đến giờ vẫn vẹn nguyên:
Con đường đi đến trái tim,
Phải do tương hợp, chuyện gì cũng thông,
Càng xa, càng muốn nhớ nhiều,
Đến gần cũng thế, bởi vì có nhau.
Thủy chung, thật dạ, thật tình,
Tình mình vẫn thế, không gì đổi thay,
Yêu do ý hợp đầu tiên,
Yêu do mong muốn mở miền tâm linh.
Thật hay, hai đứa chúng mình,
Cùng chung lý tưởng, cứu mình cứu nhân,
Làm cho cuộc sống bọn mình,
Luôn luôn hạnh phúc, chung tình mãi bên.