Đằng sau mốc tiến độ này là năng lực tổ chức triển khai và khả năng kiểm soát toàn bộ chuỗi dự án của chủ đầu tư, yếu tố ngày càng trở thành tiêu chí phân hóa trong lĩnh vực năng lượng.
Cách tiếp cận này cũng phản ánh một nguyên tắc xuyên suốt trong triển khai dự án: chuẩn bị kỹ lưỡng ngay từ đầu để có thể đưa ra quyết định nhanh trong quá trình thực thi, qua đó hạn chế độ trễ giữa các khâu và giữ được nhịp tiến độ tổng thể. Nguyên tắc này cũng gắn liền với cách điều hành của doanh nhân Đỗ Quang Hiển, người nhiều lần nhấn mạnh triết lý “chuẩn bị kỹ để có thể quyết định nhanh”, coi đây là điều kiện tiên quyết để giữ nhịp triển khai trong các dự án quy mô lớn và có độ phức tạp cao.
Đặt trong dòng chảy dài của hợp tác năng lượng Việt – Lào, Nhà máy điện gió Savan 1 do T&T Group đầu tư tại Lào còn là “chỉ dấu” cho thấy hành lang năng lượng giữa hai quốc gia đang dần được định hình bằng những dự án cụ thể, nối tiếp hành trình kéo dài hơn hai thập kỷ từ thủy điện truyền thống đến năng lượng tái tạo thế hệ mới.
Trong hơn hai thập kỷ, hợp tác năng lượng Việt – Lào đã trải qua một hành trình dài từ các dự án thủy điện truyền thống đến những bước chuyển sang năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, nếu trước đây quy mô và sản lượng là thước đo chính, thì trong giai đoạn hiện nay, tiến độ triển khai đang dần trở thành yếu tố quyết định.
Đầu những năm 2000, khi nhu cầu điện của Việt Nam bắt đầu tăng nhanh cùng quá trình công nghiệp hóa, các doanh nghiệp Việt đã nhìn sang Lào như một không gian phát triển bổ trợ tự nhiên. Khi ấy, thủy điện là lựa chọn gần như duy nhất. Những con sông lớn tại Lào, với trữ lượng nước dồi dào và địa hình phù hợp, nhanh chóng trở thành điểm đến của các dự án đầu tư năng lượng từ Việt Nam.
Năm 2000, dự án Xekaman 1 được khởi động. Không lâu sau đó, Xekaman 3, Xeset lần lượt hình thành. Những nhà máy thủy điện trên đất Lào bắt đầu phát điện, đưa một phần sản lượng về Việt Nam. Dòng điện khi ấy vừa mang ý nghĩa kinh tế, vừa tạo ra tiền lệ quan trọng cho việc kết nối hai hệ thống điện quốc gia. Hợp tác năng lượng Việt – Lào trong giai đoạn này được đo bằng sản lượng điện, tiến độ xây dựng và khả năng vận hành ổn định của các nhà máy thủy điện xuyên biên giới.
Đó là những “viên gạch” đầu tiên. Chưa có khái niệm hành lang năng lượng, nhưng đã có công trình, có đường dây và có dòng điện thương mại vượt biên giới. Quan hệ hợp tác khi ấy mang tính bổ trợ rõ nét: Việt Nam có thêm nguồn điện, Lào có thêm nguồn thu ngân sách và hạ tầng năng lượng được cải thiện.
Bước sang thập niên 2010, bức tranh dần đổi khác. Tiềm năng thủy điện không còn dồi dào như trước, trong khi nhu cầu điện của Việt Nam tiếp tục tăng cùng quá trình đô thị hóa và mở rộng sản xuất. Áp lực về môi trường và phát thải cũng ngày càng rõ ràng hơn. Hợp tác năng lượng Việt – Lào đứng trước yêu cầu phải chuyển pha, từ các nguồn năng lượng truyền thống sang các dạng năng lượng sạch hơn, bền vững hơn.
Trong giai đoạn này, nhiều doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu nghiên cứu, đề xuất các dự án năng lượng tái tạo tại đất nước Triệu Voi. Điện gió được nhìn nhận như một hướng đi tiềm năng, phù hợp với xu thế chuyển dịch năng lượng của khu vực. Tuy nhiên, khác với thủy điện, điện gió không chỉ là câu chuyện dựng nhà máy. Bài toán lớn hơn nằm ở hạ tầng truyền tải và khả năng đấu nối.
Với ngành năng lượng, khâu truyền tải và đấu nối thường là điểm nghẽn quyết định. Không ít dự án dù hoàn thành xây dựng vẫn phải chờ đợi nhiều năm để có “đường ra” cho dòng điện, khiến mốc vận hành thương mại bị kéo dài so với kế hoạch ban đầu.
Chính trong bối cảnh đó, khả năng tổ chức triển khai đồng thời các khâu của dự án, thay vì xử lý tuần tự bắt đầu trở thành yếu tố phân hóa các chủ đầu tư. Những dự án có thể kiểm soát tiến độ toàn chuỗi và đi đến vận hành trong thời gian ngắn không còn là ngoại lệ, mà đang trở thành thước đo năng lực thực thi. Savan 1 của Bầu Hiển tại Lào là một trong những trường hợp điển hình cho thấy rõ xu hướng này.
Xét về quy mô, Savan 1 không phải là dự án năng lượng lớn nhất do doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Lào, cũng không phải dự án được nhắc tới sớm nhất trong các kế hoạch hợp tác năng lượng. Nhưng đây là dự án được “vạch” lộ trình rõ ràng ngay từ đầu, với mục tiêu cụ thể là đi đến vận hành thương mại trong thời gian ngắn nhất có thể.
Dự án được T&T Group của Bầu Hiển triển khai từ đầu năm 2025, với tổng công suất thiết kế khoảng 495 MW, trong đó giai đoạn 1 đạt 300 MW với 48 tua-bin gió. Thay vì tiếp cận theo trình tự truyền thống – xây dựng nhà máy trước, rồi chờ phương án truyền tải, T&T Group lựa chọn cách làm song song: vừa thi công các hạng mục chính của nhà máy điện gió, vừa đầu tư tuyến truyền tải riêng để đưa dòng điện về Việt Nam.
Thực tế, việc có thể triển khai đồng thời nhiều hạng mục không chỉ đến từ nguồn lực, mà phụ thuộc vào mức độ chuẩn bị từ giai đoạn trước đó. Khi các phương án kỹ thuật, hạ tầng và tổ chức thực hiện đã được tính toán kỹ, quá trình triển khai cho phép các quyết định được đưa ra nhanh hơn, giảm thiểu thời gian chờ giữa các khâu. Đây cũng là yếu tố then chốt giúp rút ngắn tiến độ tổng thể của dự án.
Cách tiếp cận này cho thấy sự khác biệt trong tư duy đầu tư. Dự án không được nhìn như một hạng mục xây dựng đơn lẻ, mà là một tài sản năng lượng phải sớm vận hành và tạo giá trị. Đồng thời, việc triển khai song song các hạng mục giúp giảm thiểu độ trễ giữa các khâu, yếu tố thường khiến tiến độ tổng thể của dự án bị kéo dài.
Trong ngành năng lượng, khác biệt không nằm ở việc có dự án, mà ở khả năng đưa dự án về đích và vận hành hiệu quả trong thời gian ngắn. Điều này đòi hỏi năng lực điều phối tổng thể từ chủ đầu tư, từ tổ chức thi công, quản lý tiến độ cho tới việc xử lý đồng thời bài toán hạ tầng truyền tải, yếu tố thường khiến nhiều dự án bị kéo dài. Với Savan 1, T&T Group đã lựa chọn cách tiếp cận chủ động, triển khai song song các hạng mục và kiểm soát tiến độ toàn chuỗi, qua đó rút ngắn đáng kể thời gian đưa dự án vào vận hành.
Kết quả, chỉ sau khoảng 16 tháng, Savan 1 đã đạt mốc COD, đưa dòng điện gió từ Savannakhet hòa vào hệ thống điện Việt Nam. Không chỉ dừng ở tiến độ, dự án nhanh chóng đi vào vận hành ổn định với sản lượng khoảng 0,9 tỷ kWh mỗi năm, cho thấy khả năng kiểm soát đồng thời cả tiến độ, chất lượng và hiệu quả khai thác, yếu tố không phải dự án nào cũng đạt được khi triển khai trong thời gian ngắn.
Với Savan 1, mốc COD đồng nghĩa với việc toàn bộ chu trình phát triển dự án, từ đầu tư, xây dựng, hoàn thiện hạ tầng truyền tải cho tới bước cuối cùng là tham gia thị trường điện được khép kín trong một khoảng thời gian hiếm thấy đối với một dự án năng lượng xuyên biên giới. Đây cũng là điểm cho thấy tiến độ không phải là yếu tố ngẫu nhiên, mà là kết quả của cách tổ chức triển khai và năng lực kiểm soát dự án ở cấp độ hệ thống.
Đáng chú ý, sau Savan 1, hiện T&T Group cũng đang đề xuất phát triển Nhà máy điện gió Savan 2. Đặt trong bối cảnh chung, đề xuất này trở nên logic hơn. Khi các dự án có thể sử dụng chung hạ tầng truyền tải, tuyến vận chuyển thiết bị và kinh nghiệm triển khai, chi phí đầu tư biên sẽ được tối ưu, trong khi hiệu quả khai thác của cả cụm dự án được nâng lên. Đồng thời, việc đã kiểm chứng được năng lực triển khai trong thời gian ngắn với Savan 1 cũng tạo tiền đề để các dự án tiếp theo có thể được tổ chức với tốc độ cao hơn. Hành lang năng lượng xanh Việt – Lào, từ một định hướng chiến lược, bắt đầu hiện diện như một cấu trúc có thể mở rộng và nhân rộng trong tương lai.
Ông Đỗ Quang Hiển, Nhà sáng lập, Chủ tịch điều hành T&T Group từng nhấn mạnh rằng, đầu tư năng lượng chỉ bền vững khi gắn với lợi ích quốc gia, khả năng vận hành thực tế và giá trị dài hạn cho nền kinh tế. Cách tiếp cận của T&T tại Savan 1 phản ánh rõ tinh thần đó: vừa đảm bảo quy mô dự án, vừa ưu tiên khả năng đi đến đích, tạo ra dòng điện thực sự cho hệ thống.
Ở tầm quốc gia, việc Savan 1 chính thức vận hành thương mại mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một dự án. Đây là minh chứng cho khả năng hiện thực hóa các định hướng lớn về hợp tác năng lượng xuyên biên giới, đồng thời cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của khu vực kinh tế tư nhân trong việc giải bài toán tiến độ, yếu tố then chốt của an ninh năng lượng.
Savan 1 không phải điểm khởi đầu của hợp tác năng lượng Việt – Lào, nhưng là một dấu mốc cho thấy cách tiếp cận triển khai dự án đang thay đổi. Từ chỗ tiến độ phụ thuộc vào nhiều điều kiện khách quan, việc kiểm soát tiến độ đang dần trở thành một năng lực có thể tổ chức và lặp lại, bắt đầu từ khâu chuẩn bị kỹ lưỡng, cho phép quá trình thực thi diễn ra với tốc độ cao và liên tục. Cách tiếp cận này cũng phản ánh rõ triết lý điều hành “chuẩn bị kỹ – quyết định nhanh” của bầu Hiển, trong đó tiến độ không còn là yếu tố phụ thuộc, mà là kết quả của một hệ thống đã được thiết kế để vận hành với tốc độ cao.
Yêu cầu được nêu trong văn bản chỉ đạo của UBND TP.HCM về việc đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án đường Vành đai 3 đoạn qua địa bàn TP.
Cụ thể, lãnh đạo TP.HCM đề nghị chủ đầu tư - Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông (Ban Giao thông) - rà soát, lập lại tiến độ chi tiết các gói thầu; làm rõ tình trạng triển khai từng hạng mục, khó khăn, vướng mắc và kế hoạch, giải pháp thực hiện. Các đơn vị cần xác nhận, cam kết thực hiện theo tiến độ, gửi UBND TP và Sở Xây dựng theo dõi.
Ban Giao thông được giao tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành; kiện toàn nhân sự điều hành để đẩy nhanh tiến độ thi công; Chỉ đạo nhà thầu triển khai các giải pháp đột phá, tăng cường huy động nguồn lực, mở rộng mũi thi công, tổ chức thi công 3 ca, 4 kíp; chủ động tập kết vật liệu phục vụ thi công.
Đồng thời, cần thực hiện nghiêm các quy định về công tác nghiệm thu công trình xây dựng và các quy định pháp luật liên quan. Song song, tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ chất lượng, nguồn gốc vật liệu, biện pháp thi công và công tác nghiệm thu, bảo đảm đáp ứng yêu cầu hồ sơ thiết kế và chỉ dẫn kỹ thuật.
Đối với công tác xử lý nền đất yếu, lãnh đạo TP yêu cầu chủ đầu tư tổ chức theo dõi, quan trắc thường xuyên để đánh giá, điều chỉnh giải pháp phù hợp.
"Chủ đầu tư cần có giải pháp xử lý dứt điểm các khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ. Trường hợp không bảo đảm tiến độ theo yêu cầu của Chính phủ và chỉ đạo của UBND TP (hoàn thành trước 30.6), phải báo cáo cụ thể. Trong đó cần nêu rõ khối lượng hoàn thành, phần còn lại, nguyên nhân và kế hoạch, giải pháp thực hiện trong thời gian tới" - văn bản của UBND TP nêu rõ và nhấn mạnh: Ban Giao thông chịu trách nhiệm toàn diện trước Thành ủy, UBND TP về tiến độ, chất lượng và các nội dung liên quan đến dự án Vành đai 3 TP.HCM.
Thông tin từ Ban Giao thông, gần 15 km phía Đông TP.HCM đoạn từ nút giao Tân Vạn đến nút giao cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây chưa thảm nhựa xong toàn tuyến. Do đó, đoạn này chưa thể thông xe dịp 30 - 4 theo kế hoạch. Hiện Ban Giao thông đã báo cáo phương án điều chỉnh hoàn thành tiến độ đoạn 14,7 km này đến 30.6, thông xe chung với toàn tuyến Vành đai 3.
Ngày 7.4, Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An chủ trì cuộc họp với các Chủ tịch, Tổng giám đốc công ty điện lực, lãnh đạo Ban Quản lý dự án Điện 1 bàn giải pháp triển khai BESS trên lưới điện.
Theo ông Đặng Huy Cường, Thành viên HĐTV EVN, đến năm 2025, tổng công suất BESS được đầu tư trên toàn cầu khoảng 300.000 MW, cho thấy BESS đang trở thành xu thế tất yếu trong quá trình chuyển dịch năng lượng.
Tại Việt Nam, khi tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện ngày càng cao, BESS sẽ phát huy hiệu quả rõ ràng trong việc nâng cao tính ổn định của hệ thống điện. BESS góp phần phủ đỉnh phụ tải, qua đó có thể giảm hoặc thay thế một phần nhu cầu đầu tư vào các nguồn điện chạy đỉnh truyền thống và có thể hỗ trợ cung cấp điện, giảm nguy cơ quá tải trong các giai đoạn cao điểm...
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công thương tại Thông báo kết luận số 198/TB-BCT ngày 8.8.2025, để đáp ứng nhu cầu phụ tải đỉnh, đảm bảo khả năng cung ứng điện năm 2026 và các năm tiếp theo, EVN giao các Tổng công ty, đơn vị chủ động đầu tư lắp đặt BESS trên lưới điện.
Bà Đỗ Nguyệt Ánh, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC), cho biết qua rà soát, khảo sát, các trạm biến áp 110 kV có khả năng triển khai BESS với tổng công suất có thể lắp đặt khoảng 530 MW, với thời gian lưu trữ 2 giờ, tương đương 1.060 MWh.
EVNNPC đã trao đổi, phối hợp với Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), trong giai đoạn 1 đầu tư BESS với tổng công suất 305 MW, dự kiến hoàn thành cuối tháng 6 và tiếp tục triển khai những năm tới.
EVN giao Tổng công ty Điện lực TP.Hà Nội (EVNHANOI) phát triển BESS với tổng công suất 275 MW. EVNHANOI đang thí điểm triển khai BESS với công suất 50 MW tại 5 trạm biến áp.
Ông Nguyễn Phước Đức, Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), cho biết đơn vị đang làm việc với các doanh nghiệp để nghiên cứu, triển khai BESS tại đảo Phú Quý. Trên lưới truyền tải điện, Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia dự kiến đến tháng 1.2027 sẽ hoàn tất lắp đặt 100 MW BESS đầu tiên tại các trạm biến áp. Ban Quản lý dự án Điện 1 (EVNPMB1) được EVN giao nghiên cứu đầu tư BESS với tổng quy mô từ 300 - 500 MW, đến nay đã khảo sát và bước đầu xác định 4 vị trí tiềm năng tại miền Bắc.
Trong Quy hoạch điện 8 điều chỉnh, pin lưu trữ năng lượng đến năm 2030 đạt từ 10.000 - 16.300 MW. Theo EVN, triển khai các dự án BESS vẫn đang đối mặt với một số khó khăn, cần sớm được tháo gỡ từ quy hoạch, loại hình đầu tư, đến lựa chọn vị trí lắp đặt, hệ thống tiêu chuẩn - quy chuẩn áp dụng… Ngoài ra, vấn đề an toàn cháy nổ trong lắp đặt, vận hành BESS đặt ra yêu cầu đặc biệt nghiêm ngặt.
Chủ tịch HĐTV EVN Đặng Hoàng An nhấn mạnh, phát triển BESS được xác định là một trong những giải pháp quan trọng trong quá trình vận hành và phát triển hệ thống điện. Có ưu điểm nổi bật với thời gian triển khai lắp đặt nhanh, dù chi phí đầu tư hiện vẫn ở mức tương đối cao nhưng khi đặt trong tương quan tổng thể với các nguồn điện truyền thống, BESS không hẳn kém lợi thế, đặc biệt nếu xét đến các giá trị về tính linh hoạt và hiệu quả vận hành hệ thống.
Chủ tịch HĐTV EVN yêu cầu các đơn vị cần nhìn nhận BESS trong tổng thể nhiều vai trò và chức năng, không chỉ giới hạn ở 2 mục tiêu là phủ đỉnh phụ tải và giảm quá tải hệ thống điện; và cần xây dựng lộ trình phát triển BESS bài bản, đồng bộ, bảo đảm hiệu quả đầu tư.
EVN sẽ cùng Viện Năng lượng và NSMO kiến nghị Bộ Công thương xem xét, tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo điều kiện triển khai BESS trên diện rộng.
Phát họa bức tranh tổng thể của ngành cà phê Việt Nam, ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) nói: Năm 2025, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,59 triệu tấn, giá trị kim ngạch 9 tỉ USD nhưng xuất khẩu nguyên liệu vẫn là chủ yếu. phân khúc cà phê rang xay, hòa tan và phối trộn đạt hơn 1,4 tỉ USD nhưng phần lớn nằm trong tay của các doanh nghiệp FDI.
Để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất. Thực tế, các sản phẩm chất lượng cao đòi hỏi nguồn nguyên liệu đồng đều, có khả năng truy xuất và đạt chuẩn. Vì vậy, càng đi sâu vào chế biến, doanh nghiệp càng buộc phải đầu tư bài bản cho vùng trồng, khâu sơ chế, logistics và hệ thống dữ liệu qua đó nâng cao giá trị cà phê nguyên liệu Việt Nam.
"Bên cạnh đó, chế biến sâu còn mở ra dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi giá trị hiện đại không chỉ dừng ở hạt cà phê mà còn khai thác hiệu quả các phụ phẩm như cascara, vỏ quả, sinh khối… Đây là lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng vẫn chưa được khai thác tương xứng tại Việt Nam", ông Tài nhận định.
Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam xác nhận, Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam nhiều nhất nhiều người dân EU, kể cả một số cán bộ công chức cũng không biết gì về cà phê Việt Nam. Nguyên nhân vì Việt Nam chủ yếu xuất cà phê nhân vào thị trường nàynên sản phẩm không có thương hiệu dẫn đến người tiêu dùng thông thường không ai biết gì về cà phê Việt Nam.
Theo ông Công, EU hiện là một trong 2 trung tâm tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới quy mô thị trường trên 26 tỉ USD và sản lượng hàng năm khoảng 2,7 triệu tấn. Đây là thị trường có sức mua rất lớn, với mức tiêu thụ bình quân gần 20 kg/ người/ năm nhưng Việt Nam mới xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỉ USD, đứng thứ hai sau Brazil. Việt Nam mạnh ở khâu đầu chuỗi - cung cấp nguyên liệu,nhưng còn hạn chế ở các khâu có giá trị gia tăng cao, dẫn đến việc bỏ lỡ nhiều cơ hội nâng cao giá trị. "Những con số trên cho thấy tiềm năng, cơ hội và dư địa cho hạt cà phê Việt Nam còn rất lớn nếu biết cách đầu tư khai thác hiệu quả ở phân khúc chế biến sâu nhằm tạo ra giá trị gia tăng", ông Công lưu ý.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli cho biết, tính chung cả nước, Việt Nam ước có khoảng 10.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cà phê nhưng ít doanh nghiệp mạnh và đặc biệt không có doanh nghiệp mạnh trên thị trường quốc tế. Trong khi như cả Trung Quốc chỉ có khoảng 500 doanh nghiệp, nhưng có rất nhiều doanh nghiệp tên tuổi. Tại Mỹ, số lượng doanh nghiệp cũng không nhiều nhưng đa số đều có năng lực cạnh tranh cao.
Ông Thái Anh Tuấn Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2.9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê lớn nhất Việt Nam hiện nay nói rằng: Để phát triển chế biến sâu, doanh nghiệp cần hội đủ ba yếu tố: vốn, công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp phải đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, đồng thời có nguồn cung ổn định từ các HTX. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu được thực hiện theo các tiêu chuẩn quốc tế, với hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. Người mua có thể truy xuất đến từng container, từng hộ nông dân và vùng trồng cụ thể. Đây là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Nhưng vấn đề đầu tư vào công nghệ chế biến, xây dựng và phát triển thị trường gắn với thương hiệu sản phẩm riêng thì cần phải có vốn lớn và lộ trình phù hợp. Hiện doanh nghiệp đang lựa chọn thị trường phù hợp, triển khai từng bước chắc chắn trước khi đầu tư mạnh vào chế biến sâu.
Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê nhận định: Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng - lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng. Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính để giữ vững vị trí trong chuỗi.
TS Đỗ Việt Hà, Phó Chủ tịch Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cũng khẳng định: Nếu so với gạo hay thủy sản chính sách cho cà phê vẫn chưa tương xứng. "Một ngành đạt giá trị xuất khẩu đến 9 tỉ USD nhưng lại chưa có chính sách riêng để tiếp tục phát triển mạnh hơn nữa là vấn đề cần lưu ý", ông Hà trăn trở.
Nhà báo Tô Đình Tuân, Tổng biên tập Báo Người Lao Động, nhấn mạnh: Nếu thúc đẩy chế biến sâu hiệu quả, theo hướng chuẩn mực và nghiêm túc, ngành cà phê Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức 8 - 9 tỉ USD mà trong vài năm tới hoàn toàn có thể hướng đến những cột mốc hàng chục tỉ USD. Để đạt được những kỷ lục mới, cần xác định chế biến sâu là một trục chiến lược quốc gia, với sự tham gia của doanh nghiệp, các cơ quan, ban ngành, các đơn vị liên quan và cả cơ quan truyền thông. Bên cạnh đó, cần tạo cú hích về tài chính cho doanh nghiệp, vì đây là điểm nghẽn lớn nhất. Muốn vậy, cần có chính sách miễn, giảm thuế; giảm thuế nhập khẩu máy móc. Ngoài ra cần phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa. Nếu không có nguồn nguyên liệu đạt chuẩn thì không thể phát triển chế biến sâu.