Mục Lục
ToggleNgày 20.4, tin từ Văn phòng UBND tỉnh Cà Mau cho biết, tỉnh này chính thức triển khai kế hoạch khám sức khỏe định kỳ toàn dân giai đoạn 2026 – 2030, với yêu cầu mỗi người dân được khám ít nhất 1 lần/năm theo lộ trình, kết quả cập nhật vào sổ sức khỏe điện tử để quản lý xuyên suốt.
Kế hoạch khám sức khỏe định kỳ toàn dân đặt mục tiêu phủ kín 100% các nhóm dân cư, từ trẻ em, học sinh, người lao động đến người cao tuổi và cả lao động tự do, nhóm lâu nay dễ bị bỏ sót.
Đáng chú ý, chi phí khám sức khỏe định kỳ toàn dân được bảo đảm từ ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu sự nghiệp của đơn vị và các nguồn hợp pháp khác; các cơ quan, đơn vị chủ động chi trả cho cán bộ, người lao động trong phạm vi quản lý đến khi bảo hiểm y tế thực hiện chi trả.
Việc tổ chức khám được triển khai linh hoạt tại cơ sở y tế, trường học, doanh nghiệp hoặc khám lưu động, bảo đảm thuận tiện tiếp cận, không bỏ sót người dân.
Toàn bộ dữ liệu khám sức khỏe định kỳ toàn dân sẽ được số hóa, kết nối hệ thống y tế, tạo nền tảng quản lý sức khỏe theo vòng đời, giảm chi phí và phát hiện sớm bệnh tật.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 10-4, BS.CK2 Đỗ Châu Việt, Trưởng khoa hồi sức tích cực nhiễm, Bệnh viện Nhi đồng 2, cho biết mới đây khoa đã kịp thời cứu sống 2 trường hợp bệnh nhi nguy kịch vì bệnh tay chân miệng. Đáng lưu tâm khi cả hai trường hợp bệnh đều liên quan đến chủng virus EV71.
Trường hợp đầu tiên là nam bệnh nhi P.Đ.K., 1 tuổi, ngụ xã Đất Đỏ, TP.HCM. Hai ngày trước khi chuyển đến Bệnh viện Nhi đồng 2, bé bị sốt và được đưa đến khám ở phòng khám gần nhà.
Bé được chẩn đoán viêm họng nhưng uống thuốc không thuyên giảm. Bé tiếp tục khám và được chẩn đoán mắc tay chân miệng, bắt đầu xuất hiện các vết hồng ban.
Dù đã được nhập bệnh viện tuyến dưới nhưng tình trạng trở nặng nhanh, bệnh nhi vã mồ hôi vùng đầu, khó thở, suy hô hấp. Bệnh viện tuyến duới đặt nội khí quản và chuyển bé đến Bệnh viện Nhi đồng 2.
Tại đây, bé được các y bác sĩ của khoa hồi sức tích cực nhiễm chẩn đoán tay chân miệng độ 4 và khẩn trương cho thở máy, lọc máu và dùng thuốc trợ tim. Sau hơn 3 ngày điều trị tích cực, bé K. qua cơn nguy kịch, cai máy thở và thở CPAP, sinh hiệu tạm ổn, tiếp tục theo dõi di chứng thần kinh.
Trường hợp thứ hai là nam bệnh nhi Đ.H.T., 3 tuổi, ngụ tỉnh Khánh Hòa. Theo người nhà bệnh nhi, bé T. bị sốt và xuất hiện hồng ban. Gia đình nghi ngờ bé mắc tay chân miệng nên nhanh chóng đưa đến bệnh viện địa phương điều trị.
Ban đầu bé có đáp ứng với thuốc hạ sốt, nhưng sau đó có dấu hiệu giật mình, đi đứng loạng choạng.
Sau khi được truyền thuốc IVIg và theo dõi sát 12 giờ tại phòng hồi sức, bệnh nhi tiếp tục sốt cao 39 độ, thở mệt, miệng trào bọt hồng lẫn máu, phù phổi, nhịp tim 230 lần/phút - gấp đôi so với trẻ bình thường, huyết áp tăng, giảm đột ngột.
Bệnh nhi được chẩn đoán mắc tay chân miệng độ 4, nhưng người nhà tiếp tục chuyển bé đến Bệnh viện Nhi đồng 2 cứu chữa.
Khi nhập Bệnh viện Nhi đồng 2, SPO2 của bé còn 75%, suy hô hấp, suy tim và được chỉ định lọc máu, thở máy, dùng thuốc vận mạch. Sau 6 giờ tận tình điều trị, nhịp tim bé có giảm và sau 3 ngày điều trị bé đã được ngưng lọc máu, ngưng thuốc vận mạch và tiếp tục theo dõi di chứng thần kinh.
BS.CK2 Đỗ Châu Việt nhấn mạnh, trẻ được chẩn đoán tay chân miệng độ 4 đều gặp phải các di chứng thần kinh, tùy theo mức độ từ nhẹ đến nặng.
Bên cạnh đó, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP.HCM ghi nhận chủng EV71 hiện chiếm 56% mẫu bệnh phẩm đầu năm 2026. Virus lây truyền chủ yếu qua đường tiêu hóa và tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ người bệnh.
Dấu hiệu của chủng EV71 này thường nổi ban rất ít hoặc kín đáo. Nhiều trường hợp trẻ vào viện trong tình trạng nguy kịch, suy hô hấp, sốc tim mà không hề có hồng ban hay loét miệng rõ rệt, thậm chí có tổn thương não cấp tính, do virus tấn công thẳng vào hệ thống thần kinh trung ương, gây tổn thương nghiêm trọng các cơ quan và tử vong nhanh chóng chỉ trong vòng 12-24 giờ.
Khi bệnh bắt đầu có dấu hiệu tác động lên hệ thần kinh, mỗi phút giây chậm trễ đều có thể ảnh hưởng đến tính mạng của trẻ.
Sức Khỏe
84% người mắc ung thư phổi phát hiện muộn, gần 22.600 ca tử vong mỗi năm

Ngày 12-4, Hội Ung thư Việt Nam phối hợp với AstraZeneca Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư phổi: Hiện thực hóa mục tiêu triệt căn cùng liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch”.
Tại hội thảo, TS.BS Diệp Bảo Tuấn - Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM - cho biết ung thư phổi tiếp tục là một trong các thách thức y học hàng đầu tại Việt Nam cũng như toàn cầu.
Theo số liệu Globocan 2022 và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hằng năm nước ta ghi nhận hơn 24.000 ca ung thư phổi mới (đứng thứ 3 trong các loại ung thư) và gần 22.600 ca tử vong vì bệnh này (đứng thứ 2 về số ca tử vong do ung thư).
Mặc dù có nhiều tiến bộ, việc tiếp cận các phương pháp điều trị ung thư phổi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, với tỉ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn còn cao, tạo ra gánh nặng rất lớn. Theo thống kê, có tới 84% bệnh nhân ung thư phổi được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, chỉ khoảng 16% được phát hiện sớm.
TS.BS Phạm Xuân Dũng - Chủ tịch Hội Ung thư TP.HCM - cũng cho hay ung thư phổi đang có xu hướng gia tăng cả về số ca mắc mới lẫn tử vong, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể, tiệm cận trình độ khu vực và thế giới trong các phương pháp điều trị như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật. Tuy nhiên thách thức lớn vẫn nằm ở việc nâng cao hiệu quả điều trị, đặc biệt với những trường hợp bệnh tiến xa, ít còn lựa chọn điều trị khả quan.
Từ cuối thế kỷ 20 và trong hai thập niên đầu thế kỷ 21, điều trị ung thư phổi đã có bước chuyển mình với sự xuất hiện của hai “vũ khí” quan trọng: liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch.
Khi được kết hợp với các phương pháp truyền thống như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật, những tiến bộ này đã làm thay đổi đáng kể cách tiếp cận và tiên lượng bệnh.
“Trước đây, với ung thư phổi giai đoạn muộn đã di căn, thời gian sống thêm thường dưới 12 tháng. Tuy nhiên hiện nay, không hiếm trường hợp bệnh nhân có thể sống thêm 2 - 4 năm. Điều này cho thấy chúng ta đang tiến gần hơn đến mục tiêu cá thể hóa trong điều trị ung thư”, BS Dũng nói.
Tương tự, BS Tuấn cho biết các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
“Nếu chỉ điều trị bằng hóa trị, thời gian sống người mắc ung thư phổi ở giai đoạn 4 thường chỉ khoảng 8 - 9 tháng. Trong khi đó, với liệu pháp miễn dịch có thể tăng thời gian sống lên khoảng 33 tháng”, BS Tuấn so sánh.
Theo các chuyên gia, các liệu pháp toàn thân hiện đại, bao gồm liệu pháp nhắm trúng đích ở nhóm có đột biến EGFR và liệu pháp miễn dịch đang dịch chuyển ngày một gần hơn đến các giai đoạn sớm hơn của bệnh, và tiến đến thay đổi chiến lược điều trị từ “điều trị kéo dài sống còn” đến “hiện thực hóa mục tiêu triệt căn”.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đẩy mạnh các xét nghiệm di truyền và sinh học phân tử, phát triển các liệu pháp nhắm trúng đích và miễn dịch, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn ngày, cũng như đổi mới trong nghiên cứu lâm sàng nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị cho từng bệnh nhân.
Sức Khỏe
Nắng nóng không chỉ gây mệt: Nguy cơ ảnh hưởng thận, tim mạch ít người để ý

Theo tiến sĩ - bác sĩ chuyên khoa 2 Kiều Xuân Thy, Điều hành Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM - cơ sở 3, trong các đợt nắng nóng kéo dài, một số cơ sở y tế ghi nhận xu hướng gia tăng các trường hợp mất nước, rối loạn điện giải, ngất, tụt huyết áp, các đợt cấp của bệnh tim mạch và thận. Điều này phản ánh tác động rộng của nhiệt độ môi trường lên nhiều hệ cơ quan trong cơ thể.
Bác sĩ Xuân Thy cho biết, mất nước kéo dài làm tăng độ cô đặc của máu, đồng thời gây biến động huyết áp và rối loạn điện giải. Những thay đổi này tạo áp lực lên hệ tim mạch và có thể làm mất ổn định tình trạng bệnh ở người có sẵn yếu tố nguy cơ.
Giai đoạn đầu, người bệnh có thể thấy mệt nhanh, khát nước, đau đầu, chóng mặt, tim đập nhanh hoặc giảm khả năng tập trung. Những biểu hiện này dễ bị bỏ qua vì tương tự tình trạng mệt mỏi thông thường.
Khi tình trạng mất nước và rối loạn điện giải trở nên rõ rệt hơn, cơ thể bước vào giai đoạn kiệt sức do nhiệt. Lúc này có thể xuất hiện vã mồ hôi nhiều, buồn nôn, chuột rút, choáng váng và tiểu ít.
Theo bác sĩ Xuân Thy, người cao tuổi, trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai và người có bệnh mạn tính là nhóm dễ bị ảnh hưởng do khả năng điều hòa thân nhiệt kém hoặc dự trữ sinh lý hạn chế. Ở những người mắc tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, rung nhĩ hoặc tiểu đường, môi trường nắng nóng có thể góp phần làm tăng nguy cơ biến cố mạch máu não.
“Cần lưu ý rằng người trẻ khỏe vẫn có thể gặp biến chứng nếu làm việc hoặc tập luyện cường độ cao trong điều kiện nắng gắt, đặc biệt khi không bổ sung nước đầy đủ. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp sốc nhiệt nặng xảy ra ở nhóm này do đánh giá thấp nguy cơ và thiếu biện pháp phòng ngừa phù hợp”, bác sĩ Xuân Thy nói thêm.
Từ đó, theo bác sĩ, khi phát hiện người có dấu hiệu say nắng hoặc nghi ngờ bệnh lý do nhiệt, cần nhanh chóng đưa ra khỏi môi trường nóng, đặt ở nơi thoáng mát, nới lỏng quần áo và tiến hành làm mát bằng khăn ướt hoặc nước mát, tập trung vào vùng cổ, nách và bẹn.
Nếu người bệnh còn tỉnh, có thể cho uống từng ngụm nước nhỏ. Trong trường hợp có dấu hiệu nặng như lơ mơ, mất ý thức, co giật hoặc không thể uống nước, cần chuyển đến cơ sở y tế ngay.
Một số sai lầm thường gặp cần tránh như cho uống nước quá nhanh khi người bệnh đang buồn nôn hoặc giảm ý thức hoặc trì hoãn xử trí vì cho rằng chỉ là mệt thông thường. Những yếu tố này có thể làm tình trạng chuyển nặng nhanh hơn.
“Mọi người nên uống nước đều trong ngày, không đợi đến khi khát; khi ra nhiều mồ hôi có thể bổ sung thêm điện giải phù hợp. Nên ăn thực phẩm dễ tiêu, tăng rau xanh và trái cây để bổ sung nước và vi chất; hạn chế rượu bia, chất kích thích vì dễ làm mất nước”, bác sĩ Xuân Thy khuyên.

