Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ Online, những ngày qua, trẻ em nhập viện do nắng nóng liên quan đến bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, sốt do vi rút tăng đột biến tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa, Bệnh viện Đa khoa Hạc Thành, Bệnh viện Đa khoa Phúc Thịnh, Bệnh viện Đa Khoa Medic Hải Tiến. Bệnh nhi nhập viện trong tình trạng sốt cao, mất nước, rối loạn tiêu hóa, viêm đường hô hấp, mệt mỏi, biếng ăn.
Nguyên nhân do thời tiết nắng nóng tạo điều kiện cho vi khuẩn, vi rút phát triển mạnh, trong khi sức đề kháng của trẻ còn yếu.
Theo Bệnh viện Đa khoa Medic Hải Tiến, tỉnh Thanh Hóa, trong những ngày qua số trẻ em nhập viện tăng khoảng 40% so với tuần trước.
Bệnh nhi nhập viện liên quan đến viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi chiếm hơn một nửa số ca đang điều trị.
Do nắng nóng, số bệnh nhi bị tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa, rôm sảy, viêm da nhập viện điều trị tại bệnh viện cũng gia tăng so với trước đó.
Ngoài trẻ em, người già có sức đề kháng suy giảm, mắc bệnh tim mạch, huyết áp, đột quỵ cũng phải nhập viện điều trị bởi kiệt sức vào những ngày nắng nóng.
Tại khoa thần kinh – đột quỵ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa, số bệnh nhân phải cấp cứu do bị đột quỵ cấp tăng khoảng 50% so với tuần trước, trong đó phần lớn là người cao tuổi.
Hơn 100 bệnh nhân cao tuổi đang điều trị tại khoa này có tiền sử tăng huyết áp, tim mạch, đái tháo đường.
Theo bác sĩ Lê Hồng Ninh – Phó trưởng khoa thần kinh – đột quỵ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa, những ngày nắng nóng làm cơ thể toát nhiều mồ hôi, gây mất nước, rối loạn điện giải.
Từ đó làm máu đặc lại, dễ hình thành cục máu đông gây tắc nghẽn mạch máu não.
Việc di chuyển từ môi trường nắng nóng gay gắt vào phòng máy lạnh lạnh sâu, hoặc tắm nước lạnh ngay khi vừa đi ngoài trời về có thể khiến mạch máu co thắt đột ngột, gây vỡ hoặc tắc mạch.
Người có nguy cơ cao bị đột quỵ khi thời tiết nắng nóng là người cao tuổi, người có sẵn các bệnh mãn tính hoặc từng bị đột quỵ.
Sáng 12-4, BS.CK2 Nguyễn Thị Anh Phương, Trưởng khoa sản Bệnh viện Hùng Vương, cho biết các bác sĩ của bệnh viện vừa xử trí thành công một trường hợp thai phụ mang u xơ tử cung khổng lồ, diễn tiến phức tạp, đe dọa sức khỏe của cả mẹ và thai nhi.
Bệnh nhân là chị N.T.T. (35 tuổi, ngụ TP.HCM), nhập viện ngày 23-3 khi đang mang thai 35 tuần do khối u xơ tử cung lớn sa ra ngoài âm đạo - tình trạng có nguy cơ gây nhiều biến chứng.
Trước đó thai phụ đã sinh thường hai lần đủ tháng, không bất thường. Tuy nhiên, trước lần mang thai thứ ba, chị được phát hiện có u xơ tử cung lớn và đã được bóc u qua đường âm đạo tại một cơ sở y tế.
Đến tuần thai thứ 14, chị khám tại Bệnh viện Hùng Vương, các bác sĩ phát hiện khối u tái phát, kích thước khoảng 7x8x5cm, xuất phát từ cổ tử cung và tiếp tục sa vào âm đạo, nên chỉ định phẫu thuật lần hai.
Đến tuần thai thứ 29, khối u phát triển nhanh, kèm nhiễm trùng và hoại tử, buộc phải mổ lần ba. Theo các bác sĩ, trong thai kỳ, việc bóc u xơ chủ yếu nhằm xử lý tạm thời để kéo dài thời gian cho thai nhi phát triển.
Ở lần mổ này, khối u đã tăng lên khoảng 20x20cm, sa hẳn ra ngoài âm hộ, có dấu hiệu nhiễm trùng, tạo mủ. Sau phẫu thuật, thai phụ được điều trị kháng sinh, kiểm soát tình trạng nhiễm trùng và dọa sinh non. Sau 10 ngày, bệnh nhân ổn định và xuất viện để tiếp tục dưỡng thai.
Tuy nhiên, đến tuần thai 35, khi tái khám, khối u tiếp tục tái phát và che kín cổ tử cung. Siêu âm cho thấy thai nhi phát triển, nặng khoảng 2,2kg, ngôi mông, nước ối bình thường. Thai phụ đồng thời mắc viêm gan B mạn tính.
Sau đó bệnh nhân xuất hiện các cơn gò dày (3-4 cơn mỗi 10 phút) nên được đưa đến bệnh viện. Do thai ngôi mông và khối u lớn chắn đường sinh, các bác sĩ quyết định mổ lấy thai kết hợp bóc u vào tối 24-3.
Ca mổ diễn ra thuận lợi, bé gái chào đời an toàn với cân nặng gần 2,3kg. Ê kíp đã bóc toàn bộ khối u trong ổ bụng và phần sa ngoài âm đạo, với tổng trọng lượng khoảng 1,1kg.
Nhiều nghiên cứu cho thấy lá ổi chứa nhiều hợp chất chống oxy hóa như flavonoid và polyphenol. Những hoạt chất này có khả năng làm chậm quá trình hấp thu đường từ ruột vào máu, từ đó giúp ổn định đường huyết sau ăn, theo Healthline (Mỹ).
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy trà lá ổi có thể giúp giảm mức đường huyết sau bữa ăn ở người có nguy cơ tiểu đường loại 2.
Bác sĩ Ruchi Bharani, chuyên gia dinh dưỡng Ấn Độ, cho biết các hợp chất trong lá ổi có thể hỗ trợ cải thiện độ nhạy insulin - yếu tố quan trọng trong kiểm soát đường huyết.
Dù có tiềm năng hỗ trợ, các chuyên gia nhấn mạnh lá ổi không thể thay thế thuốc điều trị. Người bệnh tiểu đường cần tuân thủ phác đồ điều trị, kết hợp chế độ ăn và vận động, thay vì phụ thuộc vào các biện pháp dân gian, theo Cleveland Clinic (Mỹ).
Bác sĩ Manoj K. Ahuja, chuyên gia nội khoa tại Bệnh viện Fortis (Ấn Độ), cảnh báo việc tự ý dùng lá ổi với kỳ vọng “hạ đường nhanh” có thể khiến người bệnh chủ quan, bỏ qua quá trình điều trị chuẩn.
Một số người có thói quen uống nước lá ổi đặc hoặc dùng liên tục mỗi ngày. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, việc lạm dụng lá ổi có thể gây táo bón, rối loạn tiêu hóa hoặc ảnh hưởng đến hấp thu dưỡng chất, theo The Times of India.
Ngoài ra, nếu đang dùng thuốc hạ đường huyết, việc kết hợp thêm lá ổi mà không có hướng dẫn của bác sĩ có thể làm tăng nguy cơ hạ đường huyết quá mức.
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến nghị nếu muốn sử dụng, nên dùng ở mức vừa phải như một thức uống hỗ trợ, không thay thế bữa ăn hay thuốc điều trị. Nên chọn lá ổi non, rửa sạch, đun nước uống loãng và không dùng liên tục trong thời gian dài.
Người có bệnh nền, đặc biệt là tiểu đường, nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng để tránh tương tác không mong muốn.
Lá ổi có thể hỗ trợ kiểm soát đường huyết nhờ các hoạt chất tự nhiên, nhưng không phải “thần dược”. Theo các chuyên gia, cách hiệu quả nhất vẫn là duy trì chế độ ăn uống khoa học, vận động đều đặn và tuân thủ điều trị y khoa, theo Hiệp hội Tiểu đường Mỹ (ADA).
Theo tiến sĩ Anju Sood, chuyên gia dinh dưỡng tại Ấn Độ, tỏi có tính sinh nhiệt nhẹ trong cơ thể. Khi thời tiết nóng, nếu ăn quá nhiều hoặc ăn sai cách, tỏi có thể làm tăng cảm giác nóng, gây ợ nóng hoặc khó chịu đường tiêu hóa. Tuy nhiên, bà nhấn mạnh vấn đề nằm ở cách sử dụng chứ không phải bản thân thực phẩm, theo The Health Site (Ấn Độ).
Nguyên tắc đầu tiên là kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị chỉ nên dùng khoảng 1 - 2 tép tỏi mỗi ngày. Tiêu thụ tỏi ở mức vừa phải giúp phát huy lợi ích chống oxy hóa và tim mạch, đồng thời hạn chế các tác dụng phụ như đầy hơi, ợ nóng, theo Healthline (Mỹ).
Một sai lầm phổ biến là ăn tỏi sống vào buổi sáng khi chưa ăn gì. Tiến sĩ Rupali Datta, chuyên gia dinh dưỡng ở Ấn Độ, cho biết ăn tỏi sống vào buổi sáng có thể làm tăng kích ứng niêm mạc dạ dày, gây nóng rát, buồn nôn hoặc khó chịu. Trong mùa nóng, tình trạng này dễ xảy ra hơn do hệ tiêu hóa nhạy cảm.
Tỏi - đặc biệt khi ăn sống - có thể gây kích ứng đường tiêu hóa ở một số người, dẫn đến cảm giác nóng rát, đầy hơi hoặc khó chịu dạ dày nếu dùng quá nhiều hoặc ăn khi bụng đói. Các hợp chất sulfur trong tỏi, dù có lợi cho sức khỏe, nhưng cũng có thể “khá mạnh” với niêm mạc tiêu hóa nhạy cảm, theo Cleveland Clinic (Mỹ).
Tỏi sống chứa nhiều allicin nhưng cũng dễ gây “nóng”. Để hạn chế điều này, các chuyên gia khuyên nên dùng tỏi đã nấu chín hoặc tỏi ngâm, vừa giảm độ hăng vừa dễ tiêu hóa hơn. Một mẹo nhỏ là đập dập tỏi và để khoảng 10 phút trước khi chế biến để tối ưu hoạt chất có lợi.
Để giảm cảm giác sinh nhiệt, tỏi nên được dùng cùng rau xanh, dưa leo, cà chua... Đồng thời, việc bổ sung đủ nước giúp cơ thể điều hòa thân nhiệt và hỗ trợ tiêu hóa tốt hơn trong thời tiết nắng nóng, theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
Các chuyên gia nhấn mạnh, tỏi không gây “nóng” nếu được sử dụng đúng cách. Trong mùa nắng nóng, chỉ cần điều chỉnh lượng ăn, thời điểm và cách chế biến, bạn vẫn có thể tận dụng lợi ích của tỏi mà không lo ảnh hưởng đến sức khỏe.