Mục Lục
ToggleSau Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, CTCP Chứng khoán Kafi (Kafi) đã ban hành Nghị quyết về việc kiện toàn nhân sự cấp cao, đồng thời công bố kết quả bầu cử chức danh Chủ tịch Hội đồng Quản trị theo quy định.
Cụ thể, tại đại hội ngày 9-4, cổ đông Kafi đã thông qua việc miễn nhiệm ông Lê Quang Trung – Chủ tịch HĐQT theo đơn từ nhiệm. Đến ngày 10-4, công ty ban hành nghị quyết chính thức về việc bầu bổ sung nhân sự, đảm bảo tính liên tục trong hoạt động quản trị.
Theo đó, ông Nguyễn Việt Cường được bầu làm Chủ tịch HĐQT. Hội đồng quản trị Kafi hiện gồm 5 thành viên, bao gồm ông Cường cùng các thành viên ông Trần Tuấn Minh, ông Hà Hoàng Dũng, ông Trịnh Thanh Cần và ông Diệp Thế Anh.
Động thái kiện toàn nhân sự cấp cao được xem là bước đi nhằm củng cố năng lực quản trị, đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô và chuẩn hóa hoạt động trong bối cảnh thị trường ngày càng đặt ra tiêu chuẩn cao hơn.
Theo giới thiệu, ông Nguyễn Việt Cường có hơn 25 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính, kiểm toán, đầu tư và quản trị doanh nghiệp. Ông từng đảm nhiệm nhiều vị trí quản lý tại các tổ chức trong và ngoài nước như KPMG, Unilever, VinaCapital, cũng như tại các doanh nghiệp niêm yết lớn.
Trước đó, ông từng giữ vị trí Phó giám đốc điều hành tại VinaCapital Corporate Finance Vietnam và là thành viên HĐQT độc lập của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) giai đoạn 2019-2022.
Với nền tảng tài chính – kiểm toán và kinh nghiệm quản trị, tân Chủ tịch HĐQT được kỳ vọng sẽ góp phần định hình chiến lược và nâng cao hiệu quả quản trị của Kafi trong giai đoạn tới.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/chung-khoan-kafi-co-tan-chu-tich-hoi-dong-quan-tri-20260410214833699.htm

Sau cuộc họp ngày 5/4, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ và đồng minh (OPEC+) thống nhất tăng hạn ngạch sản xuất thêm 206.000 thùng một ngày trong tháng 5. Mức tăng này tương đương tháng 4.
Tuy nhiên, con số trên được đánh giá khiêm tốn và chỉ có ý nghĩa trên giấy tờ, do các thành viên chủ chốt hiện khó nâng sản lượng. Tại vùng Vịnh, cơ sở hạ tầng đang chịu thiệt hại do các cuộc tấn công bằng tên lửa và thiết bị bay không người lái. Một số quan chức cho biết kể cả khi chiến sự chấm dứt và eo biển Hormuz được mở lại, các nước vẫn mất vài tháng để khôi phục hoạt động và đạt mục tiêu sản lượng.
Cuộc xung đột khiến eo biển Hormuz gần như bị phong tỏa từ cuối tháng 2, chặn tuyến đường xuất khẩu của nhiều nước thành viên OPEC+ như Arab Saudi, UAE, Kuwait và Iraq. Đây là các quốc gia có khả năng nâng sản xuất mạnh nhất trước chiến sự.
Những nước khác trong OPEC+, như Nga, hiện cũng không thể tăng sản lượng, vì các lệnh trừng phạt của phương Tây và thiệt hại với cơ sở hạ tầng trong chiến sự Ukraine.
"Thực tế là số dầu được bổ sung ra thị trường rất ít. Khi eo biển Hormuz vẫn đóng, việc OPEC+ tăng sản xuất ít có ý nghĩa", Jorge Leon - cựu quan chức OPEC, hiện làm việc tại hãng tư vấn năng lượng Rystad Energy nhận định.
Mức tăng trên chỉ tương đương gần 2% lượng dầu bị thiếu hụt do eo biển Hormuz tê liệt. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy OPEC+ sẵn sàng nâng sản xuất ngay khi tuyến đường thủy này mở lại, các nguồn tin của Reuters cho biết.
Cuối tuần trước, Iran tuyên bố các tàu của Iraq được đi qua Hormuz. Dữ liệu vận tải ngày 5/4 cho thấy một tàu chở dầu thô của Iraq đã đi qua eo biển này.
JPMorgan tuần trước dự báo giá dầu có thể vượt 150 USD một thùng - cao nhất lịch sử, nếu dòng chảy năng lượng qua Hormuz gián đoạn đến giữa tháng 5.
Iran là một trong 22 thành viên của OPEC+. Tổ chức này giảm sản lượng từ 2022 nhằm ngăn dư cung trên thị trường khiến giá giảm. Từ tháng 4/2025, sản xuất của nhóm dần tăng lên, nhằm giành lại thị phần từ các đối thủ, như Mỹ. Tính đến hiện tại, họ tăng sản xuất thêm 2,9 triệu thùng một ngày.
Hà Thu (theo Reuters)
Tin Gốc: https://vnexpress.net/opec-tiep-tuc-tang-san-xuat-dau-5058884.html

Từ đầu năm đến nay, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng biến động mạnh. Phiên 4/2, lãi suất qua đêm vọt lên 17%, mức cao nhất trong khoảng một thập kỷ. Trong tháng 3, thị trường ghi nhận nhiều phiên lãi suất vượt 10% trước khi hạ nhiệt. Đến đầu tháng 4, lãi suất qua đêm vẫn duy trì quanh 9%.
Khác với lãi suất huy động từ dân cư, đây là lãi suất vay mượn giữa các tổ chức tín dụng, chủ yếu phục vụ nhu cầu bù đắp thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống.
Diễn biến tăng mạnh của lãi suất liên ngân hàng phản ánh áp lực thanh khoản đã bắt đầu gia tăng từ cuối năm ngoái. Sau giai đoạn tín dụng mở rộng nhanh, dư nợ cho vay tại nhiều ngân hàng đã vượt quy mô huy động. Tỷ lệ cho vay trên huy động tại nhiều nhà băng vượt 100% và có xu hướng tăng so với đầu năm 2025.
Điều này khiến một số ngân hàng phải tìm đến vay mượn trên thị trường liên ngân hàng với chi phí cao hơn.
Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán Vietcombank (VCBS), áp lực thanh khoản và cân đối vốn của hệ thống ngân hàng đã gia tăng từ nửa cuối năm 2025, đặc biệt tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần vừa và nhỏ.
"Khi khả năng hấp thụ các cú sốc ngắn hạn suy giảm, các nhà băng này phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn trên thị trường liên ngân hàng, qua đó đẩy mặt bằng lãi suất lên cao", VCBS nhận định.
Bên cạnh đó, dòng tiền trong hệ thống chưa kịp dịch chuyển từ ngân hàng dư thừa sang ngân hàng thiếu hụt cũng khiến tình trạng "nghẽn cục bộ" kéo dài vài tháng, làm gia tăng nhu cầu vay mượn lẫn nhau giữa các tổ chức tín dụng.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Ngoài yếu tố nội tại, chính sách điều hành tỷ giá cũng góp phần tác động tới thanh khoản hệ thống.
Gần đây, Ngân hàng Nhà nước triển khai bán USD kỳ hạn 180 ngày cho các tổ chức tín dụng với mức giá 26.850 đồng mỗi USD nhằm ổn định tỷ giá trong bối cảnh đồng bạc xanh mạnh lên do căng thẳng địa chính trị.
Theo ông Nguyễn Hoàn Niên, chuyên gia phân tích tại Chứng khoán Shinhan, biện pháp này giúp giảm áp lực tỷ giá nhưng đồng thời "giam" một lượng tiền đồng trong hệ thống, khiến thanh khoản co lại và góp phần đẩy lãi suất liên ngân hàng tăng.
Dù vậy, chuyên gia cho rằng lãi suất liên ngân hàng chủ yếu phản ánh những biến động thanh khoản mang tính tức thời. Chỉ khi các biến động này kéo dài và hình thành xu hướng rõ rệt mới có thể đánh giá tác động dài hạn tới mặt bằng lãi suất thị trường.
"Lãi suất vay mượn giữa các ngân hàng phản ánh áp lực thanh khoản nhưng chưa chắc kéo lãi suất tiền gửi tăng theo", ông Niên cho biết.
Thực tế, mối quan hệ giữa lãi suất liên ngân hàng và lãi suất huy động dân cư tại Việt Nam không hoàn toàn tuân theo quy luật một chiều như lý thuyết kinh tế. Trong một số giai đoạn, lãi suất huy động có thể tăng trước rồi mới tác động ngược lại thị trường liên ngân hàng, ông Niên nhận định.
Đặc thù này xuất phát từ cấu trúc hệ thống ngân hàng trong nước, khi thu nhập lãi vẫn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 70-80%, cao hơn nhiều so với mức khoảng 30% ở các ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh đó, sự can thiệp hành chính như áp trần lãi suất hay định hướng điều hành cũng khiến sự liên thông giữa hai thị trường trở nên phức tạp hơn.
Tác động lớn nhất của việc lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh như vừa qua, theo ông Niên, là gây áp lực lên biên lợi nhuận (NIM) của các ngân hàng khi chi phí vốn tăng lên. Điều này buộc một số nhà băng sẽ tìm cách đa dạng hóa nguồn thu, như đẩy mạnh cho vay tiêu dùng hoặc mở rộng các hoạt động đầu tư, dịch vụ.
Theo dự báo của chuyên gia chứng khoán Shinhan, lãi suất liên ngân hàng khó giảm sâu trong thời gian tới, có thể duy trì quanh mức 6,8-7% với kỳ hạn một tháng. Trong khi đó, lãi suất huy động trên thị trường dân cư được dự báo dao động khoảng 7-9% mỗi năm, tùy theo từng ngân hàng.
Trong bối cảnh thanh khoản nghẽn cục bộ và dư địa điều hành bị thu hẹp bởi áp lực tỷ giá, mặt bằng lãi suất được nhận định khó sớm quay lại mức thấp như trước.
Quỳnh Trang
Tin Gốc: https://vnexpress.net/lai-suat-lien-ngan-hang-bien-dong-manh-trong-3-thang-dau-nam-5057688.html

Tọa đàm "Tiết kiệm điện và điện mặt trời áp mái: Giải pháp giảm áp lực cung ứng điện giai đoạn 2026 - 2030" do báo Công Thương phối hợp cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) tổ chức tại TP.HCM trong sáng 21-4.
Theo ông Trung, nhu cầu điện tăng vọt giữa cao điểm nắng nóng, cùng rủi ro thiếu nước và biến động thị trường năng lượng khiến công tác điều độ hệ thống điện đứng trước áp lực lớn.
Cụ thể, tiêu thụ điện năm 2024 chưa từng ghi nhận mốc 1 tỉ kWh/ngày. Năm 2025 thì phải đến tháng 5, thời điểm các đợt nắng nóng kéo dài liên tục, tiêu thụ điện khi đó mới đạt 1 tỉ kWh/ngày.
Nhưng ngay giữa tháng 3 vừa qua, lượng điện tiêu thụ cả nước đã đạt 1 tỉ kWh rồi. Từ 31-3 đến các ngày đầu tháng 4 đều ghi nhận mức tiêu thụ trung bình trên 1 tỉ kWh/ngày.
Riêng ngày 8-4 kỷ lục 1,092 tỉ kWh điện, công suất lớn nhất 52.225 MW. Từ đó ông đưa ra dự báo tiêu thụ điện cả nước sớm vượt mốc 1,1 tỉ kWh ngay sau dịp lễ 30-4.
"Nắng nóng 1-2 ngày thì tiêu thụ điện chưa thay đổi rõ rệt, nhưng chỉ cần kéo dài 4-5 ngày, nhu cầu sử dụng điện đã tăng lên khá nhiều. Có thể hình dung rất rõ áp lực này, chỉ cần nhiệt độ tăng thêm 1-2 độ C, hệ thống đã phải gánh thêm một lượng công suất tương đương gần như toàn bộ công suất của một tổ hợp thủy điện Hòa Bình. Đó là áp lực rất lớn từ phía nhu cầu", ông Trung nhấn mạnh.
Đi kèm với những áp lực về tiêu thụ điện liên tục vượt kỷ lục là rất nhiều trở ngại khác cho ngành điện. Bởi theo ông Trung, lượng nước đổ về các hồ thủy điện hiện suy giảm, luôn ở mức thấp và chỉ có thể sản xuất được khoảng 70 triệu kWh/ngày, bằng 7,5% nhu cầu tiêu thụ điện của toàn bộ nền kinh tế.
Đối với nhiệt điện than, nắng nóng kéo dài làm phát sinh nhiều khó khăn trong vận hành, các tổ máy phải giảm/ngừng công suất để xử lý sự cố thiết bị phụ và đáp ứng yêu cầu môi trường, điều kiện làm mát…
Đồng thời có thể xảy ra rủi ro gián đoạn nguồn cấp than (nhập khẩu) do ảnh hưởng của chiến tranh tại khu vực Trung Đông.
Đối với nguồn tua bin khí, việc hạn chế khả năng cấp khí (cả nguồn khí nội địa và nguồn LNG nhập khẩu) làm giảm khả năng huy động và vận hành linh hoạt của các tổ máy cụm Phú Mỹ, Nhơn Trạch. Ngoài ra, biến động thị trường năng lượng thế giới tiếp tục ảnh hưởng đến giá và nguồn cung LNG (khoảng 25%).
Tại tọa đàm, ông Trịnh Quốc Vũ, Phó cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương), thông tin trước mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 từ 10% trở lên, các đơn vị đã xây dựng nhiều kịch bản. Trong đó phương án dự kiến phụ tải điện tăng 8,5%, điều hành dự kiến mức tăng 11,7%, còn dự phòng điều hành cho các tháng cao điểm mùa khô được tính ở mức 14,1%.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, nhu cầu điện toàn hệ thống ước tăng khoảng 7 - 7,5%, tổng nhu cầu điện toàn hệ thống trong năm 2026 hiện được ước tăng khoảng 8%. Mức tăng trưởng này theo đánh giá không phải quá cao so với phương án cơ sở.
Tuy nhiên khó khăn của hệ thống điện không chỉ nằm ở mức tăng điện năng tiêu thụ bình quân mà còn ở việc công suất cực đại của phụ tải tăng cao, đặc biệt trong những ngày nắng nóng gay gắt như thời gian đầu tháng 4 vừa qua.
Bộ Công Thương cho biết đã có sự chuẩn bị từ trước cho mùa khô năm 2026 với phương án cao nhất lên tới 14,1%. Dù vậy, cùng với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp từ phía cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị điện lực, vẫn rất cần sự chung tay của người dân trong việc sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả.
"Nếu người dân đồng lòng, tích cực tham gia, việc cung ứng điện phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống dân sinh trong năm 2026 cũng như giai đoạn cao điểm sắp tới về cơ bản vẫn sẽ được bảo đảm", ông Trịnh Quốc Vũ nhấn mạnh.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

