Trong năm cuối tại Đại học Yale, Amanda biết rằng nhiều bạn cùng lớp sử dụng chatbot để viết luận và làm bài tập về nhà. Tuy nhiên, cô chỉ nhận ra điều kỳ lạ khi thảo luận nhóm: các bạn đưa ra những luận điểm và lập luận trau chuốt kỹ lưỡng, nhưng kết quả thu “nhạt nhẽo, thiếu sức sống” ở nhiều chủ đề khác nhau.
“Trong buổi học, tôi thấy cảnh tượng quen thuộc. Khi giảng viên yêu cầu sinh viên suy nghĩ một câu hỏi, những người bạn bên cạnh liền gõ lia lịa vào laptop đang mở sẵn”, Amanda nói với CNN, yêu cầu dùng biệt danh để tránh rắc rối.
“Bây giờ, ai cũng thảo luận na ná nhau”, cô cho biết. “Hồi năm nhất, các cuộc tranh luận diễn ra rôm rả, không mạch lạc nhưng ai cũng đóng góp một điều gì đó mới mẻ, dựa vào ý kiến của nhau, tiếp cận từ nhiều góc độ và đưa ra nhận xét khác biệt”.
Thực tế, theo bài báo được công bố vào tháng 3 trên tạp chí Trends in Cognitive Sciences, các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) đang “hệ thống hóa” cách diễn đạt và tư duy của con người trên ba khía cạnh: ngôn ngữ, quan điểm và lý luận.
Trong môi trường giáo dục, sinh viên, giảng viên cho biết họ đang thấy những ảnh hưởng của xu hướng đó trong lớp học. Và điều đó khiến nhiều sinh viên nói chuyện với quan điểm như nhau.
Tác động
Jessica, sinh viên năm cuối tại Đại học Yale, nói cô sử dụng AI mỗi ngày khi lên lớp. “Vào đầu giờ học, bạn có thể thấy từng người đưa file PDF vào chatbot”, cô cho biết.
Theo Jessica, việc AI diễn đạt rõ ý là yếu tố cần thiết đối với cô – người thường gặp khó khăn khi muốn chuyển suy nghĩ thành lời. “Tôi muốn bình luận, tôi có ý tưởng, nhưng tôi không biết làm thế nào để nói câu đó một cách mạch lạc”, cô nói. “Vì thế, tôi nhờ một chatbot làm cho câu nói của mình mạch lạc hơn”.
Giáo sư Thomas Chatterton Williams tại Trung tâm Hannah Arendt thuộc trường Cao đẳng Bard, chứng kiến tác động từ quyết định sử dụng AI của sinh viên theo nhiều hướng khác nhau. “Việc dựa vào AI đã giúp nâng cao chất lượng thảo luận trên lớp, nhất là ở khóa học có khái niệm khó”, ông nói. “Nhưng công nghệ này cũng có xu hướng làm giảm đi những suy nghĩ kỳ lạ, độc đáo và mới mẻ hơn”.
Theo ông, điều lo ngại là nhiều người trẻ tài năng sẽ không có được tiếng nói riêng. Thậm chí, một lượng đáng kể trong số họ sẽ không thực sự hiểu được giá trị của việc viết lách và sở hữu quan điểm.
Jessica thừa nhận cô thấy mình trở nên lười biếng hơn kể từ khi bắt đầu sử dụng chatbot trong học tập. “Dường như tinh thần tự học, tự làm việc của tôi đã hoàn toàn biến mất”, cô chia sẻ.
Về vấn đề AI khiến giọng điệu của sinh viên nghe na ná nhau, Zhivar Sourati, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Nam California, cho rằng các mô hình ngôn ngữ lớn được huấn luyện để dự đoán từ tiếp theo có khả năng xuất hiện cao nhất dựa trên nội dung đã xuất hiện trước đó. Do đó câu trả lời “phản ánh một lát cắt hẹp và méo mó về trải nghiệm của con người, sự thu hẹp không gian khái niệm mà các mô hình sử dụng để viết, nói và suy luận”.
Dẫn một nghiên cứu đang thực hiện cùng nhóm cộng sự, Sourati giải thích rằng sự đồng nhất hóa do AI diễn ra trên ba chiều: ngôn ngữ, quan điểm và chiến lược lập luận. Các mô hình AI có xu hướng tái tạo những gì gọi là quan điểm WEIRD (phương Tây hóa – có học thức – công nghiệp hóa – giàu có – dân chủ). Hệ quả là, AI sẽ ưu tiên WEIRD “đúng đắn hơn về mặt xã hội”, làm lu mờ các quan điểm khác.
“Khi một người hoặc một nhóm tương tác nhiều lần với hệ thống AI, họ bị giảm khả năng sáng tạo so với khi không có sự hỗ trợ của AI”, Sourati viết trên blog.
Hiện tượng “san bằng” làm dấy lên những lo ngại trong các cơ sở giáo dục ở mọi cấp độ khi ứng dụng AI. Morteza Dehghani, giáo sư tâm lý học và khoa học máy tính tại Đại học Nam California, thành viên nhóm nghiên cứu, cho biết xu hướng này khiến mọi người “đánh mất sự đa dạng” trong cách nghĩ, lười biếng về mặt trí tuệ, gây ảnh hưởng lớn đến xã hội con người trong tương lai.
Daniel Buck, nhà nghiên cứu tại Viện Doanh nghiệp Mỹ từng là giáo viên tiếng Anh, lo ngại học sinh đang “né tránh” nhận thức khi tham gia thảo luận trên lớp và hoàn thành bài tập về nhà. “Rất nhiều kiến thức cần được học hỏi từ chi tiết nhỏ nhặt và nhàm chán hay từ những khó khăn”, Buck nói. “Sinh viên chỉ ghi nhớ những gì họ thực sự dành thời gian một cách có ý thức. Nếu giao phó cho AI, họ chỉ có thể tái hiện lại một luận điểm, không thể xây dựng kỹ năng cho riêng mình”.
Nhà nghiên cứu này lo ngại sinh viên nếu quá phụ thuộc vào AI sẽ tốt nghiệp mà không xây dựng được mối quan hệ với các giáo sư, cũng như thói quen làm việc trí óc bền bỉ. Nghĩa là, họ sẽ gặp khó khăn trong giải quyết vấn đề trong thế giới thực khi ra trường.
Vấn đề còn liên quan đến gian lận trong thi cử. Năm ngoái, nạn dùng AI để gian lận xảy ra ở nhiều đại học hàng đầu Hàn Quốc, như Đại học Yonsei, Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Korea… gây tranh cãi và đặt ra thách thức về về dạy và học trong kỷ nguyên công nghệ, theo Korea Herald.
Theo giáo sư triết học Sun-Joo Shin của Đại học Yale, việc kiểm soát và định hướng sử dụng AI cho học sinh là “nhiệm vụ lớn đối với bất kỳ ai tham gia giảng dạy”. Bà nhấn mạnh, giáo viên/giảng viên phải liên tục tìm tòi các phương pháp để đảm bảo sinh viên tiếp tục tư duy phản biện và sáng tạo trong thời đại trí tuệ nhân tạo.
“Tôi muốn sinh viên của mình hiểu nội dung bài học – thứ vốn không thay đổi trước và sau khi trí tuệ nhân tạo xuất hiện”, bà nói. “Tôi muốn họ sử dụng công cụ thú vị này để có lợi cho mình, không phải trở thành nạn nhân của nó”.
Đại học Yale hiện đưa ra hướng dẫn về sử dụng AI cho sinh viên và giảng viên trên website. Trường khuyến khích tất cả giảng viên điều chỉnh giáo án phù hợp với khóa học và mục tiêu học tập cụ thể của sinh viên thay vì cần đến công cụ phát hiện gian lận. Bên cạnh đó, họ có thể kiểm soát bài học trên lớp thông qua các bài kiểm tra đột xuất.
Danny Liu, giáo sư công nghệ giáo dục tại Đại học Sydney, cho rằng không nên cấm AI trong lớp. “Thay vì trừng phạt, nên dạy sinh viên cách sử dụng đúng đắn. Chúng tôi muốn xác minh liệu sinh viên có đang học hay không, chứ không phải liệu họ có gian lận hay không”, Liu nói với ABC cuối năm ngoái.
Các nhà giáo dục nhấn mạnh, họ có thể tìm cách khắc phục việc sinh viên sử dụng AI trong các bài đánh giá. Tuy nhiên, điều quan trọng không kém là học sinh cần chủ động hạn chế phụ thuộc vào AI trong quá trình học tập.
Basil Ghezzi, sinh viên năm nhất tại trường Bard College, cho biết bản thân chủ động tránh xa AI trong học tập, một phần vì công nghệ này tiêu tốn tài nguyên và gây hại cho môi trường. Tuy nhiên, phần lớn nằm ở cách AI đã tạo ra “những người bạn rập khuôn” xung quanh.
“Hãy nói chuyện với thầy cô giáo, nói chuyện với giáo sư, nói chuyện với những người xung quanh”, Ghezzi nói về cách bản thân không bị AI cám dỗ. “Hãy tạo cuộc trò chuyện ý nghĩa với những người trong cuộc sống của bạn”.
GS Dehghani hy vọng nhiều công ty sẽ đầu tư vào mô hình AI có thể phản ánh sự đa dạng về tư duy trong xã hội. Tuy nhiên, hiện tại, ông cho rằng mọi người nên hạn chế dùng AI trong việc tạo ý tưởng hoặc để suy luận trong học tập. “Các mô hình AI nên là cộng tác viên, không phải người đại diện chúng ta làm mọi việc”, Dehghani nói thêm.
Bảo Lâm tổng hợp
Nỗi sợ siêu AI của một số sinh viên Harvard, MIT
Jensen Huang: ‘Sẽ chọn khoa học vật lý nếu là sinh viên’
Nạn sinh viên ‘ma’ tạo bằng AI khiến đại học Mỹ đau đầu
Đã bao giờ bạn tự hỏi tại sao mình lại mua những món đồ hoàn toàn không có trong danh sách khi bước vào siêu thị? Câu trả lời có thể nằm ở chính những chiếc camera an ninh đang âm thầm quan sát bạn từ phía trên trần nhà.
Theo đó, trong cuộc đua tăng doanh thu, các nhà bán lẻ hiện nay không còn chỉ dựa vào linh cảm. Họ đang sử dụng một 'vũ khí' vô cùng lợi hại, đó là hệ thống camera an ninh tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI). Thay vì chỉ ghi lại hình ảnh để đề phòng mất trộm, những chiếc camera này giờ đây đóng vai trò như những chuyên gia phân tích tâm lý và hành vi khách hàng theo thời gian thực.
Bằng cách theo dõi luồng di chuyển của khách hàng, AI có thể tạo ra các 'bản đồ nhiệt' (heat map) chỉ ra đâu là khu vực thu hút nhiều người qua lại nhất. Nếu bạn thấy một gian hàng khuyến mãi xuất hiện ngay trên lối đi quen thuộc của mình đến quầy thanh toán, đó không phải là ngẫu nhiên. Đó là kết quả của việc AI đã tư vấn cho nhà quản lý vị trí 'vàng' để tối đa hóa khả năng khách hàng sẽ bỏ thêm sản phẩm vào giỏ.
Công nghệ này còn mang lại lợi ích thực tế cho người tiêu dùng. AI có thể đếm số người đang xếp hàng để cảnh báo quản lý mở thêm quầy thanh toán, giúp giảm thời gian chờ đợi. Tại các chuỗi lớn như Adidas, việc kết hợp dữ liệu camera với doanh thu tại quầy giúp họ tính toán chính xác tỷ lệ chuyển đổi và điều chỉnh chiến dịch marketing cho từng thị trường cụ thể.
Tất nhiên, nhiệm vụ chống trộm vẫn được ưu tiên. Tuy nhiên, thay vì cần nhân viên ngồi dán mắt vào màn hình, AI sẽ tự động nhận diện các hành vi bất thường và cảnh báo ngay lập tức. Thậm chí, công nghệ này còn giúp theo dõi kệ hàng; nếu một món đồ sắp hết, hệ thống sẽ tự báo để nhân viên bổ sung, đảm bảo bạn luôn tìm thấy thứ mình cần.
Với thị trường phân tích video dự kiến đạt gần 38 tỉ USD vào năm 2030, có thể khẳng định những 'con mắt' trên trần nhà sẽ ngày càng thông minh hơn. Chúng không chỉ bảo vệ hàng hóa mà còn đang định hình lại hoàn toàn cách chúng ta mua sắm trong tương lai.
Trong chuyến du hành tới Mặt Trăng đầu tháng 4, phi hành đoàn Artemis II chụp nhiều hình ảnh ngoạn mục về thiên thể này và Trái Đất, nhận được sự quan tâm lớn của những người yêu thích khám phá không gian. Tuy nhiên, một số bức ảnh lại thu hút vì yếu tố khác: những ngôi sao và hành tinh lấp lánh trên nền vũ trụ. Điều này gây ngạc nhiên vì trong ảnh chụp từ chương trình Mặt Trăng Apollo của NASA cách đây hơn nửa thế kỷ, nhiều người đã quen với nền vũ trụ là khoảng không tối đen.
Theo Viện Vật lý (IOP) tại Anh, việc không có ngôi sao nào trong ảnh chụp từ bề mặt Mặt Trăng là lý do phổ biến khiến một số người nghi ngờ việc phi hành gia Apollo đã đặt chân lên bề mặt thiên thể. Không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm ánh sáng và khí quyển dày như ở Trái Đất, họ trông đợi thấy hàng nghìn ngôi sao trong mọi bức ảnh.
IOP giải thích, kỳ vọng này dựa trên giả định rằng ảnh được chụp vào đêm Mặt Trăng (ban đêm trên Mặt Trăng dài tương đương 14 ngày Trái Đất). Trong khi thực tế, mọi chuyến bay có người lái đến Mặt Trăng thời Apollo đều diễn ra vào ban ngày (cũng dài tương đương 14 ngày Trái Đất), khi bề mặt thiên thể này sáng rực. Phi hành gia phải đeo kính bảo hộ và chụp ảnh trong điều kiện các ngôi sao thua kém bề mặt Mặt Trăng về độ sáng. Chúng quá mờ để xuất hiện trong ảnh, khiến bầu trời trông như khoảng không tối đen.
"Giả sử bạn là Neil Armstrong đang chụp ảnh Buzz Aldrin vào ban ngày nhiều ánh sáng trên Mặt Trăng. Buzz (mặc bộ đồ vũ trụ) và bề mặt Mặt Trăng sẽ là chủ thể sáng nhất trong ảnh. Để Buzz hiện rõ, bạn cần chọn tốc độ màn trập nhanh và khẩu độ nhỏ. Kết quả, bạn thu được hình ảnh rõ nét của Buzz, nhưng nguồn sáng khác như những ngôi sao lại quá mờ để xuất hiện trên phim chụp", nhà sử học du hành vũ trụ Amy Shira Teitel nói với Astronomy.
Theo nhà vật lý thiên văn Alfredo Carpineti, tiến sĩ tại Đại học Hoàng gia London, từ bề mặt Mặt Trăng hoặc không gian sâu, con người thường có thể thấy bầu trời đầy sao, dải Ngân Hà rõ nét cùng nhiều thiên thể khác. Tuy nhiên, chúng không hiện diện trong ảnh do mục tiêu và cách chụp.
Những mục tiêu phổ biến trong nhiếp ảnh cận Trái Đất là phi hành gia mặc bộ đồ vũ trụ màu trắng, tàu, trạm vũ trụ, Mặt Trăng và chính hành tinh xanh. "Tất cả chủ thể đó đều có một điểm chung: rất sáng nhờ phản xạ nhiều ánh nắng Mặt Trời. Trong khi đó, các ngôi sao vốn là nguồn sáng nhưng lại ở quá xa nên mờ nhạt", Carpineti giải thích trên IFL Science.
Không chỉ ảnh chụp từ phi hành gia, những bức ảnh do camera trên tàu vũ trụ chụp cũng có thể vắng bóng sao. "Về cơ bản, chúng ta không thể thấy sao từ camera trên tàu vì để quan sát chính con tàu (hoặc Mặt Trăng, Trái Đất) thì phải là ban ngày, khi Mặt Trời soi sáng chúng. Camera được điều chỉnh để phù hợp với độ sáng đó nên không thể thu ánh sáng yếu từ những ngôi sao phía sau", tiến sĩ Becky Smethurst, nhà vật lý thiên văn tại Đại học Oxford, nói với Reuters.
Hình ảnh từ không gian có thể trông giống chụp vào ban đêm vì nền trời màu đen thay vì xanh. Nhưng thực tế, bầu trời ban ngày trên Trái Đất có màu xanh nhờ sự tán xạ ánh sáng trong khí quyển. "Vượt khỏi khí quyển, bầu trời ban ngày trông tối đen", Smethurst giải thích.
Bên cạnh đó, đa số ảnh không gian được chụp trên tàu vũ trụ di chuyển nhanh. Vì vậy, để có tác phẩm tốt, cần điều chỉnh tốc độ màn trập và thời gian phơi sáng thích hợp. Phi hành gia NASA Don Pettit thậm chí tự phát triển thiết bị theo dõi sao riêng để chụp những bức ảnh phơi sáng đúng thời gian cần thiết từ Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS), vật thể di chuyển với tốc độ tới 8 km mỗi giây.
Ảnh chụp toàn cảnh Trái Đất ngày 3/4 (trái) và 2/4 (phải) từ tàu vũ trụ Orion trong nhiệm vụ Artemis II. Ảnh: NASA
Những hình ảnh từ phi hành đoàn Artemis II, trong đó các hành tinh và ngôi sao nằm ngoài hệ thống Trái Đất - Mặt Trăng hiện diện, đều có điểm chung là ngược sáng, hay Mặt Trời chiếu sáng từ phía sau. Trong ảnh toàn cảnh Trái Đất ngày 2/4 với thời gian phơi sáng dài hơn, các chi tiết, bao gồm Sao Kim cùng nhiều thiên thể khác, rõ nét hơn so với ảnh chụp ngày 3/4.
Tương tự, trong ảnh chụp nhật thực ngày 6/4, khi Mặt Trăng chắn trước Mặt Trời, các hành tinh và ngôi sao cũng hiện rõ. NASA giải thích: "Các ngôi sao, thường quá mờ để quan sát khi chụp Mặt Trăng, cũng xuất hiện. Lý do là khi Mặt Trăng chìm trong bóng tối, việc chụp ảnh sao trở nên dễ dàng hơn".
Tàu Orion rời bệ phóng tối 1/4 (5h35 ngày 2/4 giờ Hà Nội) đưa bốn phi hành gia bay tới Mặt Trăng, đánh dấu sứ mệnh có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA).
Nhiệm vụ Artemis II đánh dấu hàng loạt cột mốc trong ngành hàng không vũ trụ. Ví dụ, phi hành gia da màu, người phụ nữ, người không phải công dân Mỹ đầu tiên, phi hành gia lớn tuổi nhất đến Mặt Trăng. Ngoài ra, phi hành đoàn còn lập kỷ lục bay xa Trái Đất nhất, 406.771 km, xa hơn 6.616 km so với kỷ lục cũ của Apollo 13.
Bên cạnh đó, đây là chuyến bay có người lái đầu tiên của tên lửa Hệ thống Phóng Không gian (SLS) và tàu Orion. Rất nhiều công nghệ thử nghiệm trên tàu cũng lần đầu được sử dụng ngoài không gian như Hệ thống Liên lạc Quang học Orion Artemis II, sử dụng tia laser để gửi và nhận dữ liệu từ Trái Đất. Ngoài ra, tàu cũng trang bị nhà vệ sinh hoạt động đầy đủ đầu tiên trong chuyến bay tới Mặt Trăng.
Mặt Trăng đang trở thành chủ đề được quan tâm sau khi NASA phóng thành công tàu Orion chở phi hành đoàn Artemis II tới thiên thể này hôm 1/4. Bên cạnh hoạt động của Artemis, nhiều người cũng nhắc lại Apollo - chương trình vũ trụ được nhớ đến nhiều nhất của NASA với những cuộc đổ bộ Mặt Trăng mang tính lịch sử.
Ngày 20/7/1969, trong nhiệm vụ Apollo 11, hai phi hành gia Neil Armstrong và Buzz Aldrin dựng lá cờ Mỹ đầu tiên trên bề mặt Mặt Trăng trong chuyến đi bộ kéo dài 2,5 tiếng. Quá trình cắm cờ diễn ra khoảng 10 phút, trở thành một trong những cột mốc ấn tượng nhất của chuyến đổ bộ đầu tiên.
Ba năm tiếp theo, 5 lá cờ khác tiếp tục được dựng lên, khẳng định thành công của Mỹ trong cuộc đua khám phá vũ trụ. Tuy nhiên, chúng cũng làm dấy lên nghi ngờ về độ xác thực vì trông như bay phấp phới dù Mặt Trăng gần như không có khí quyển, do vậy cũng không có gió.
Thiết kế lá cờ 'bay'
Khi còn chưa đầy ba tháng trước chuyến đổ bộ của Apollo 11, Robert Gilruth, Giám đốc Trung tâm Tàu vũ trụ có người lái (nay là Trung tâm Vũ trụ Johnson ở Houston), chọn Jack Kinzler, trưởng bộ phận Dịch vụ Kỹ thuật, để thiết kế lá cờ và cơ chế cho phép nó "bay" trong môi trường thiếu không khí trên Mặt Trăng. Kinzler cùng phó bộ phận David McCraw đã gấp rút hoàn thiện trong vài ngày.
Lá cờ vẫn là cờ nylon tiêu chuẩn kích thước 152 x 91 cm, nhưng may thêm đường viền dọc mép trên để lồng một thanh kim loại, giúp nó luôn vươn ra thay vì rủ xuống. Cột cắm cờ cao khoảng 2,4 m. Các thanh đỡ dọc và ngang là ống nhôm mạ vàng. Bộ cờ, bao gồm cả hộp thép không gỉ để bảo vệ khỏi nhiệt độ khắc nghiệt, nặng 4,3 kg. Thomas Moser, chuyên gia tại Bộ phận Cấu trúc và Cơ khí, tiến hành phân tích và đánh giá việc gắn bộ cờ vào chân đáp phía trước của khoang đổ bộ là an toàn.
Các chuyên gia sau đó cẩn thận gấp lá cờ, đặt vào hộp đựng. Ba ngày trước khi phóng tàu Apollo 11, Kinzler mang bộ cờ đến Trung tâm Vũ trụ Kennedy để các nhân viên gắn vào chân đáp của khoang đổ bộ.
Ngoài gắn thêm thanh ngang giúp cờ bay, các kỹ sư NASA cũng cân nhắc nhiều vấn đề khác. "Những yếu tố khác được tính đến khi thiết kế là trọng lượng, khả năng chịu nhiệt và tính dễ lắp ráp với phi hành gia bị hạn chế chuyển động và khả năng cầm nắm đồ vật do mặc bộ đồ vũ trụ", Anne Platoff, nhà sử học kiêm chuyên gia nghiên cứu cờ tại Đại học California Santa Barbara, giải thích.
Trong cuộc họp kỹ thuật của phi hành đoàn, Armstrong và Aldrin báo cáo một số vấn đề với việc cắm cờ. Họ gặp sự cố khi kéo thanh ống lồng nằm ngang phía trên và không thể kéo dài nó hết cỡ. Tuy nhiên, điều này mang lại một chút "hiệu ứng gợn sóng" sống động. Các phi hành đoàn sau đó cố tình để thanh ngang thu vào một phần theo cách tương tự.
Giáo sư Anu Ojha, Giám đốc Trung tâm Khám phá Vũ trụ Quốc gia tại Anh, giải thích thêm: "Những nếp gấp là do lá cờ bị nhàu trong chuyến bay 4 ngày đến Mặt Trăng".
Tình trạng 6 lá cờ ngày nay
Ảnh chụp những năm 2010 từ Tàu quỹ đạo Trinh sát Mặt Trăng (LRO) của NASA cho thấy lá cờ do phi hành đoàn Apollo 12, 16 và 17 để lại có vẻ vẫn đứng vững. Các chuyên gia không thể xác định chắc chắn tình trạng lá cờ của nhiệm vụ Apollo 14 và 15, nhưng có vẻ cờ Apollo 14 chịu hư hại khá nặng do khí xả động cơ từ khoang đổ bộ trong quá trình cất cánh.
LRO cũng không quan sát được lá cờ đầu tiên mà phi hành đoàn Apollo 11 cắm trên Mặt Trăng. Camera bên trong khoang đổ bộ bắt đầu ghi hình sau khi tàu đã bay lên khỏi bề mặt thiên thể và lá cờ không xuất hiện trong video, nhưng Aldrin khẳng định ông thoáng thấy lá cờ bị đổ trong quá trình cất cánh. Trong những nhiệm vụ Apollo sau này, phi hành gia cắm cờ cách xa khoang đổ bộ hơn.
Trái: Ảnh chụp từ quỹ đạo năm 2012 của tàu LRO về địa điểm tàu Apollo 12 hạ cánh cho thấy bóng lá cờ (góc trên bên trái). Phải: Charles Conrad, chỉ huy nhiệm vụ Apollo 12, đứng cạnh lá cờ trên bề mặt Mặt Trăng năm 1969. Ảnh: NASA
Theo Space, kể cả vẫn đứng vững khi phi hành đoàn phóng tàu rời khỏi Mặt Trăng, các lá cờ hiện nay gần như chắc chắn không còn giống lúc mới cắm. "Nhiều khả năng phần nylon của chúng đã xuống cấp do tiếp xúc lâu với ánh sáng Mặt Trời", Platoff nhận định. Hiện tượng này gọi là "sun rot" (mục nát do Mặt Trời).
"Điều tôi thường xuyên thấy trong các bài phân tích là cờ sẽ bị tẩy trắng do tiếp xúc với ánh sáng Mặt Trời. Dù điều này xảy ra với một số cờ trên Trái Đất, tôi không chắc quá trình hóa học liên quan và liệu điều đó có xảy ra trong môi trường Mặt Trăng hay không", Platoff nói thêm.
Tuy nhiên, các lá cờ trên thiên thể này có thể đã trở nên giòn và phân rã theo thời gian. Một mối đe dọa khác với chúng là những thiên thạch dội xuống Mặt Trăng, nơi không có khí quyển dày để bảo vệ như Trái Đất.