Sáng 10.4, Viện Phát triển chính sách ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức tọa đàm “Nghiên cứu chính sách hỗ trợ và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận chính sách của công nhân ngành xây dựng”. Chương trình thu hút nhiều nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, đại diện doanh nghiệp và các chủ thể liên quan trong lĩnh vực lao động và xây dựng.
Tọa đàm được tổ chức trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện chính sách phát triển thị trường lao động và bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt đối với lực lượng công nhân ngành xây dựng, một bộ phận lao động giữ vai trò trực tiếp trong kiến tạo hạ tầng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tọa đàm được triển khai trong khuôn khổ đề án “Chính sách và chương trình hỗ trợ công nhân ngành xây dựng: Nghiên cứu điển hình một số doanh nghiệp xây dựng tại TP.HCM”.
Mục đích nghiên cứu nhằm đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách, chương trình hỗ trợ công nhân ngành xây dựng hướng đến mục tiêu phát triển con người toàn diện. Đồng thời, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng của công nhân ngành xây dựng trong tiếp cận các chính sách và chương trình hỗ trợ. Với sự tham gia của doanh nghiệp, sự kiện thể hiện rõ nét phương thức liên kết “ba nhà” giữa Nhà nước, nhà trường và nhà doanh nghiệp trong nghiên cứu, tư vấn và phản biện chính sách theo tinh thần Nghị quyết 57/NQ-TW.
Phát biểu khai mạc, PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách ĐH Quốc gia TP.HCM, nhấn mạnh yêu cầu phải tiếp cận vấn đề chính sách đối với công nhân ngành xây dựng trên cơ sở tổng thể, đồng bộ và gắn với thực tiễn. Theo đó, hiệu quả của chính sách cần được đánh giá thông qua khả năng tiếp cận và thụ hưởng thực chất của người lao động, trong mối quan hệ giữa thể chế, cơ chế tổ chức thực thi và đặc điểm của doanh nghiệp cũng như người lao động.
Trong chương trình, đại biểu tập trung trao đổi, thảo luận các nội dung trọng tâm liên quan đến đánh giá khung chính sách, thể chế và cơ chế tổ chức thực thi các chương trình hỗ trợ đối với công nhân ngành xây dựng; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận chính sách từ phía doanh nghiệp và người lao động; nhận diện các rào cản, điểm nghẽn và khoảng trống trong quá trình triển khai chính sách; tham chiếu kinh nghiệm trong nước và quốc tế; đồng thời đề xuất các giải pháp và hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả thiết kế và tổ chức thực thi chính sách trong thời gian tới.
Các tham luận và ý kiến trao đổi tại tọa đàm đã góp phần định hình một cách tiếp cận hệ thống đối với vấn đề khả năng tiếp cận chính sách của công nhân ngành xây dựng, làm rõ các cơ chế tác động đa chiều và gợi mở các hướng hoàn thiện chính sách theo hướng sát thực tiễn, khả thi và có khả năng triển khai. Nhiều ý kiến nhấn mạnh yêu cầu tăng cường vai trò của doanh nghiệp và tổ chức công đoàn trong quá trình tổ chức thực thi chính sách, nâng cao năng lực tiếp cận thông tin và bảo đảm điều kiện thụ hưởng chính sách của người lao động theo hướng thực chất, công bằng và hiệu quả.
Ngày 7/4, mạng xã hội lan truyền đoạn video ghi lại cảnh một người phụ nữ có hành vi bạo hành trẻ tại một cơ sở mầm non trên địa bàn xã Phạm Ngũ Lão, tỉnh Hưng Yên.
Trong video, người phụ nữ liên tục tác động mạnh vào cơ thể em bé, dùng tay đánh vào chân trẻ, sau đó cởi áo của bé. Sự việc được cho là xảy ra vào khoảng 10h42 cùng ngày, tại một căn phòng của cơ sở.
Đoạn clip sau khi xuất hiện đã thu hút sự chú ý lớn từ cộng đồng mạng. Nhiều ý kiến bày tỏ lo ngại về việc đảm bảo an toàn và chăm sóc trẻ nhỏ trong môi trường mầm non.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, lãnh đạo UBND xã Phạm Ngũ Lão cho biết địa phương đã nắm được thông tin vụ việc. Chính quyền đang tiến hành kiểm tra, xác minh nội dung liên quan.
Kết quả xác minh sẽ là cơ sở để cơ quan chức năng xem xét, xử lý theo quy định nếu phát hiện vi phạm.
Trong đó, 119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh, trường chất lượng cao Phan Huy Chú - Đống Đa tuyển 400 em, 4 trường chuyên lấy hơn 2.700.
Tổng chỉ tiêu gần như tương đương năm ngoái, nhưng năm nay thủ đô có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng chừng 20.000 em. Vì thế, chỉ khoảng 55% có suất học lớp 10 công lập, thấp hơn gần 10%.
Con số này dự kiến tăng nhẹ khi một số trường dự kiến hoạt động từ năm tới chưa được giao chỉ tiêu, gồm THPT Hoàng Quán Chi (phường Yên Hòa), Vĩnh Hưng (phường Vĩnh Hưng), Việt Hùng (xã Đông Anh).
Chỉ tiêu lớp 10 của 119 trường THPT ở Hà Nội năm 2026 như sau:
TT
Trường
Chỉ tiêu 2026
Chỉ tiêu 2025
Tăng/giảm
1
THPT Phan Đình Phùng
720
720
0
2
THPT Phạm Hồng Thái
585
720
-135
3
THPT Nguyễn Trãi - Ba Đình
688
765
-77
4
THPT Tây Hồ
765
765
0
5
THPT Trần Phú
765
765
0
6
THPT Việt Đức
945
945
0
7
THPT Thăng Long
720
675
45
8
THPT Trần Nhân Tông
720
720
0
9
THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng
675
675
0
10
THPT Đống Đa
675
720
-45
11
THPT Hoàng Cầu
540
-
-
12
THPT Kim Liên
765
765
0
13
THPT Lê Quý Đôn - Đống Đa
675
720
-45
14
THPT Quang Trung - Đống Đa
675
675
0
15
THPT Nhân Chính
585
585
0
16
Trần Hưng Đạo - Thanh Xuân
675
765
-90
17
THPT Khương Đình
675
765
-90
18
THPT Khương Hạ
450
400
50
19
THPT Cầu Giấy
720
720
0
20
THPT Yên Hòa
765
765
0
21
THPT Hoàng Văn Thụ
765
765
0
22
THPT Trương Định
675
675
0
23
THPT Việt Nam - Ba Lan
720
765
-45
24
THPT Đỗ Mười
675
-
-
25
THPT Ngô Thì Nhậm
720
675
45
26
THPT Ngọc Hồi
675
675
0
27
THPT Đông Mỹ
675
765
-90
28
THPT Nguyễn Quốc Trinh
765
720
45
29
THPT Nguyễn Gia Thiều
720
675
45
30
THPT Lý Thường Kiệt
675
675
0
31
THPT Thạch Bàn
765
765
0
32
THPT Phúc Lợi
765
765
0
33
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm
765
765
0
34
THPT Dương Xá
720
720
0
35
THPT Nguyễn Văn Cừ
765
720
45
36
THPT Yên Viên
720
720
0
37
THPT Đa Phúc
765
675
90
38
THPT Kim Anh
675
675
0
39
THPT Minh Phú
585
585
0
40
THPT Sóc Sơn
765
675
90
41
THPT Trung Giã
675
630
45
42
THPT Xuân Giang
630
630
0
43
THPT Bắc Thăng Long
720
675
45
44
THPT Cổ Loa
675
765
-90
45
THPT Đông Anh
675
720
-45
46
THPT Liên Hà
675
675
0
47
THPT Vân Nội
765
720
45
48
THPT Phúc Thịnh
675
-
-
49
THPT Mê Linh
540
630
-90
50
THPT Quang Minh
450
540
-90
51
THPT Tiền Phong
585
495
90
52
THPT Tiến Thịnh
540
495
45
53
THPT Tự Lập
540
540
0
54
THPT Yên Lãng
585
495
90
55
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
675
765
-90
56
THPT Xuân Đỉnh
675
765
-90
57
THPT Thượng Cát
540
585
-45
58
THPT Đại Mỗ
720
720
0
59
THPT Trung Văn
585
520
65
60
THPT Xuân Phương
675
765
-90
61
THPT Mỹ Đình
765
765
0
62
THPT Hoài Đức A
630
720
-90
63
THPT Hoài Đức B
720
720
0
64
THPT Vạn Xuân - Hoài Đức
675
675
0
65
THT Hoài Đức C
585
540
45
66
THPT Đan Phượng
675
675
0
67
THPT Hồng Thái
630
585
45
68
THPT Tân Lập
675
630
45
69
THPT Thọ Xuân
540
540
0
70
THPT Ngọc Tảo
765
720
45
71
THPT Phúc Thọ
675
720
-45
72
THPT Vân Cốc
585
585
0
73
THPT Tùng Thiện
765
765
0
74
THPT Xuân Khanh
675
630
45
75
THPT Ba Vì
630
630
0
76
THPT Bất Bạt
450
450
0
77
Phổ thông Dân tộc nội trú
140
140
0
78
THPT Ngô Quyền - Ba Vì
675
675
0
79
THPT Quảng Oai
675
675
0
80
THPT Minh Quang
540
540
0
81
THPT Bắc Lương Sơn
540
495
45
82
Hai Bà Trưng - Thạch Thất
675
675
0
83
Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất
675
540
135
84
THPT Thạch Thất
765
675
90
85
THPT Minh Hà
450
450
0
86
THPT Cao Bá Quát - Quốc Oai
585
585
0
87
THPT Minh Khai
675
675
0
88
THPT Quốc Oai
675
675
0
89
THPT Phan Huy Chú - Quốc Oai
720
720
0
90
THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông
765
765
0
91
THPT Quang Trung - Hà Đông
765
720
45
92
THPT Trần Hưng Đạo - Hà Đông
720
720
0
93
THPT Lê Lợi
720
-
-
94
THPT Chúc Động
675
765
-90
95
THPT Chương Mỹ A
675
720
-45
96
THPT Chương Mỹ B
720
720
0
97
THPT Xuân Mai
675
765
-90
98
THPT Nguyễn Văn Trỗi
720
720
0
99
THPT Nguyễn Du - Thanh Oai
675
765
-90
100
THPT Thanh Oai A
720
720
0
101
THPT Thanh Oai B
720
720
0
102
THPT Thường Tín
675
675
0
103
THPT Nguyễn Trãi - Thường Tín
540
630
-90
104
THPT Lý Tử Tấn
585
585
0
105
THPT Tô Hiệu - Thường Tín
585
630
-45
106
THPT Vân Tảo
630
585
45
107
THPT Đồng Quan
585
585
0
108
THPT Phú Xuyên A
675
675
0
109
THPT Phú Xuyên B
675
630
45
110
THPT Tân Dân
495
495
0
111
THPT Hợp Thanh
585
495
90
112
THPT Mỹ Đức A
720
675
45
113
THPT Mỹ Đức B
585
585
0
114
THPT Mỹ Đức C
675
585
90
115
THPT Đại Cường
450
450
0
116
THPT Lưu Hoàng
585
495
90
117
THPT Trần Đăng Ninh
585
540
45
118
THPT Ứng Hòa A
585
585
0
119
THPT Ứng Hòa B
585
540
45
Trong 119 trường THPT, hơn 30 trường tăng chỉ tiêu, phổ biến 45-90 học sinh, hơn 20 trường giảm, còn đa số ổn định.
THPT Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất tăng 135 học sinh, trong khi THPT Phạm Hồng Thái giảm tương đương. Đây là hai trường có biến động chỉ tiêu nhiều nhất.
Với hệ chuyên, cả 4 trường đều giữ ổn định số lớp và chỉ tiêu như năm ngoái, tổng 2.730. Cụ thể, trường chuyên Hà Nội - Amsterdam tuyển 840 học sinh, chuyên Chu Văn An 665, chuyên Nguyễn Huệ 700 và chuyên Sơn Tây 525.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 chuyên ở Hà Nội năm 2026
Thí sinh đang trong giai đoạn tập dượt đăng ký thi lớp 10 trực tuyến, trước khi đăng ký chính thức vào 10-17/4. Năm nay, các em có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Kỳ thi diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Bùi Thế Duy vừa ký quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Hoàng Oanh giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường đại học Việt Nhật - Đại học Quốc gia Hà Nội, hiệu lực từ 12-4.
Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Oanh 47 tuổi, quê Hải Phòng. Ông là tiến sĩ vật lý, tốt nghiệp tại Đại học Tsukuba, Nhật Bản năm 2010.
Trước đó, từ tháng 7 đến tháng 9-2000, ông từng là nghiên cứu viên tại Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Từ tháng 9-2000 đến tháng 3-2015, ông là cán bộ giảng dạy, khoa Vật lý, Trường đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông từng đảm nhận chức vụ Phó chủ nhiệm bộ môn tin học vật lý, trợ lý chủ nhiệm khoa, phó chủ nhiệm khoa phụ trách đào tạo.
Từ tháng 3-2015 đến tháng 8-2016, ông giữ chức vụ Phó trưởng ban phụ trách Đào tạo và khoa học công nghệ, Ban quản lý Trường đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Từ tháng 8-2016 đến nay, ông là Phó hiệu trưởng Trường đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội (đảm nhiệm vai trò Phó hiệu trưởng thường trực từ năm 2023 đến nay).