Thế nhưng, ngày càng có những trường hợp chỉ cần cầm điện thoại lên đã thấy choáng, buồn nôn hoặc mệt mỏi, thậm chí sợ cầm vào điện thoại.
Chị N.T.M. (40 tuổi, nhân viên văn phòng tại Hà Nội) chia sẻ khoảng vài tháng gần đây, chị bắt đầu gặp tình trạng rất khó chịu: “Cứ cầm điện thoại lên là tôi thấy buồn nôn, chóng mặt, tay tê như kiến bò, nhiều lúc còn sợ không dám dùng nữa”.
Trước đó, chị M. có tiền sử đau cột sống cổ do đặc thù công việc phải ngồi máy tính nhiều giờ mỗi ngày. Ngoài thời gian làm việc, chị vẫn thường xuyên sử dụng điện thoại để trao đổi công việc và giải trí.
“Ban đầu chỉ là mỏi cổ, rồi dần dần mỗi lần nhìn vào điện thoại lâu là thấy choáng nhẹ. Sau này chỉ cần cầm lên thôi cũng đã thấy khó chịu”, chị chia sẻ.
Tình trạng này khiến công việc của chị bị ảnh hưởng đáng kể, khi nhiều lúc chị phải trì hoãn trả lời tin nhắn, hạn chế sử dụng điện thoại dù công việc yêu cầu liên tục.
BS Ngô Văn Quốc – trưởng khoa ngoại chấn thương Bệnh viện Lê Văn Thịnh (TP.HCM) – cho biết hiện nay số lượng bệnh nhân bị đau cổ vai gáy đến phòng khám xương khớp tăng dần theo từng năm và có xu hướng trẻ hóa.
Nếu quan sát kỹ sẽ thấy việc đau cổ, đau lưng do dùng máy tính, điện thoại trong tư thế xấu còn ảnh hưởng đến cả dáng đi, dáng ngồi. Những bệnh nhân này thường kèm theo gù lưng và người có xu hướng cúi người ra phía trước.
BS Nguyễn Tiến Lộc – khoa ngoại chấn thương Bệnh viện Lê Văn Thịnh – cũng giải thích cầm điện thoại trong thời gian dài khiến mắt đã quen với khoảng cách nhìn gần, nên khi vừa ngưng dùng để làm việc khác, mắt người dùng cần khoảng thời gian ngắn để thích nghi với sự thay đổi khoảng cách nhìn, dẫn đến tình trạng chóng mặt, buồn nôn do não bộ đang thích nghi với sự thay đổi.
Ngoài ra, trong thời gian dài cầm điện thoại ở một tư thế cũng khiến các gân ở cổ bàn tay phải gồng cứng liên tục để giữ màn hình ổn định. Điều này góp phần làm tăng áp lực ở cổ tay, gây ra tình trạng tê tay như người bị bệnh “hội chứng ống cổ tay”.
Đây là loại bệnh thường gặp ở những người phải lao động bằng bàn tay liên tục như thợ hớt tóc, nghệ sĩ dương cầm.
Với một số người bệnh có cảm giác khó chịu ngay khi cầm điện thoại, BS Lộc cho hay cảm giác “khó chịu” này có thể đến từ nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên nếu “khó chịu” đến từ bàn tay thì nguyên nhân lớn nhất là do người bệnh mắc phải bệnh hội chứng ống cổ tay như đề cập.
Khi cúi đầu nhìn điện thoại, các cơ ở vùng cổ sẽ phải gồng cứng liên tục để đảm bảo đầu và cổ được giữ ổn định. Sau nhiều giờ dùng điện thoại, người dùng sẽ có cảm giác mỏi cổ do các cơ kể trên bị quá tải.
Đáng lưu tâm, với các video ngắn thường đánh vào tâm lý “thỏa mãn nhanh” của người dùng, chúng ta dễ dồn sự tập trung vào màn hình trong thời gian dài mà quên mất mình đang sử dụng điện thoại ở tư thế không tốt.
Với hiện tượng “cứ cầm điện thoại lên là buồn nôn, mệt, tê tay, thậm chí sợ sử dụng điện thoại” – chia sẻ với Tuổi Trẻ, ThS Hoàng Trọng Lân, chuyên gia tâm lý lâm sàng, cho rằng bên cạnh vấn đề bệnh lý cơ thể, tình trạng này có thể còn do yếu tố tâm lý.
Theo ThS Lân, ở những người có tiền sử đau cột sống cổ, việc duy trì tư thế cúi đầu trong thời gian dài khi dùng điện thoại có thể gây chèn ép thần kinh, rối loạn tuần hoàn vùng cổ – đầu. Hệ quả là xuất hiện các triệu chứng như tê tay, chóng mặt, buồn nôn.
Đáng chú ý, khi những trải nghiệm khó chịu này lặp lại nhiều lần, não bộ có thể hình thành một “liên kết có điều kiện”. Ông Lân cho biết từng tiếp nhận một trường hợp điển hình, một nhân viên văn phòng sau thời gian dài bị đau cổ vai gáy, mỗi lần dùng điện thoại đều thấy choáng nhẹ và buồn nôn.
Ban đầu đây là phản ứng sinh lý do tư thế. Tuy nhiên về sau dù đã điều chỉnh tư thế và chỉ sử dụng trong thời gian ngắn, người này vẫn xuất hiện cảm giác khó chịu và dần né tránh việc sử dụng điện thoại.
“Điều này cho thấy yếu tố thể chất có thể là nguyên nhân khởi phát nhưng yếu tố tâm lý lại góp phần duy trì và làm trầm trọng thêm triệu chứng”, ông Lân phân tích. Theo đó, một “vòng xoắn” có thể hình thành trải nghiệm khó chịu khiến não ghi nhớ, từ đó sinh ra lo âu dự đoán; lo âu lại làm tăng phản ứng sinh lý khiến triệu chứng rõ hơn và dẫn đến né tránh.
Theo chuyên gia, nếu không được can thiệp kịp thời, tình trạng này có thể tiến triển thành rối loạn lo âu. Người gặp vấn đề sẽ dần hạn chế hoặc sợ sử dụng thiết bị, thậm chí né tránh công việc, giao tiếp trực tuyến, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất làm việc và chất lượng cuộc sống.
Người có các dấu hiệu như triệu chứng kéo dài nhiều tuần không giảm, mức độ khó chịu tăng dần, xuất hiện hành vi né tránh hoặc lo lắng rõ rệt khi nghĩ đến việc sử dụng điện thoại nên tìm đến chuyên gia để được thăm khám. Việc đánh giá sớm giúp phân biệt rõ yếu tố thể chất và tâm lý, từ đó có hướng can thiệp.
Về nguyên tắc xử lý, ông Lân ví cột sống cổ như “nền tảng vật lý”. Nếu nền tảng này gặp vấn đề như sai tư thế, căng cơ hay chèn ép nhẹ cần điều chỉnh tư thế, tập vật lý trị liệu để loại bỏ tín hiệu khó chịu từ cơ thể.
Song song đó cần can thiệp vào “cách não đã học và ghi nhớ trải nghiệm”. Liệu pháp tâm lý, đặc biệt theo hướng nhận thức – hành vi, giúp người bệnh điều chỉnh lại nhận thức và hành vi. Người bệnh có thể tập tiếp xúc lại với điện thoại từng bước, bắt đầu từ thời gian ngắn, ở tư thế đúng và trong trạng thái thư giãn, sau đó tăng dần.
“Hiểu đơn giản là vừa chỉnh lại cơ thể, vừa “dạy lại” não rằng việc sử dụng điện thoại là an toàn. Khi hai quá trình này diễn ra song song, triệu chứng sẽ giảm bền vững”, ông Lân nói.
Theo tiến sĩ - bác sĩ Ketan Bulsara, Giám đốc Trung tâm Đột quỵ tại Cleveland Clinic (Mỹ), cơ chế liên quan giữa nắng nóng và đột quỵ là rất thực tế. Trong điều kiện nhiệt độ cao, cơ thể mất nước và muối khoáng nhanh chóng. Khi đó, máu trở nên cô đặc hơn, tâm thất và mạch máu phải làm việc nhiều hơn, làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông - nguyên nhân chính gây ra đột quỵ thiếu máu cục bộ.
Một nghiên cứu đăng trên Harvard Health Publishing (Mỹ) cũng ghi nhận rằng môi trường nhiệt độ cao có thể tác động xấu đến hệ tuần hoàn. Dữ liệu lớn được thu thập từ các bệnh viện trên khắp nước Mỹ cho thấy nguy cơ nhập viện vì đột quỵ tăng lên trong những ngày nắng nóng, đặc biệt ở người cao tuổi, người có bệnh nền tim mạch, huyết áp cao hoặc tiểu đường.
Bên cạnh đó, tiến sĩ - bác s Rebecca Fieles, chuyên gia thần kinh của University of Maryland Medical Center (Mỹ), cho biết nắng nóng còn có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết não - một dạng đột quỵ nghiêm trọng khác.
Nhiệt độ cao khiến các mạch máu bị giãn nở và áp lực tuần hoàn thay đổi thất thường, nhất là ở người có vữa xơ động mạch. Sự mất cân bằng này có thể dẫn tới vỡ mạch, gây xuất huyết trong não.
Một tổng quan đăng tải trên tạp chí Frontiers in Neurology cũng chỉ ra rằng nhiệt độ thời tiết cực đoan (quá nóng hoặc quá lạnh) đều liên quan tới nguy cơ đột quỵ tăng lên, đặc biệt ở những người có bệnh nền từ trước. Sự mất nước, rối loạn điện giải và thay đổi huyết áp thất thường khi thời tiết nóng là những yếu tố làm não thiếu oxy nhanh hơn, từ đó tác động tới nguy cơ tai biến.
Không chỉ vậy, điều mà nhiều người hay bỏ qua là ”đột quỵ nhiệt” - tình trạng đột ngột suy giảm chức năng não do nhiệt độ cơ thể quá cao (trên 40 °C). Biến chứng này có thể xảy ra khi cơ thể không kịp thích nghi với nhiệt độ cao, dẫn đến tổn thương tế bào não và hệ thần kinh nếu không được sơ cứu kịp thời.
Các chuyên gia đều nhấn mạnh rằng nắng nóng không trực tiếp “gây” đột quỵ đối với người hoàn toàn khỏe mạnh, nhưng ở những người có yếu tố nguy cơ (cao huyết áp, rối loạn mỡ máu, tiểu đường, tiền sử tim mạch hoặc đột quỵ), nhiệt độ cao là “chất xúc tác” nguy hiểm khiến bệnh tiến triển nhanh và biến chứng nặng.
Do đó, phòng ngừa đột quỵ mùa nắng nóng - đặc biệt ở người cao tuổi - cần chú trọng:
Đặc biệt, nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí khoa học BMC Nephrology đã cảnh báo về mối liên hệ mật thiết giữa sức khỏe răng miệng và chức năng thận.
Nghiên cứu quốc tế do các nhà khoa học Trường Y Đại học Cincinnati (Mỹ) dẫn đầu, đã bất ngờ phát hiện mối liên quan chặt chẽ giữa bệnh nướu răng và bệnh thận.
Sau khi phân tích bằng chứng từ hơn 150 bài báo, bao gồm các nghiên cứu quan sát, phân tích tổng hợp và thử nghiệm can thiệp, các nhà nghiên cứu đã xác định bằng chứng ngày càng tăng về sự tương tác giữa răng miệng và thận.
Bệnh nha chu và bệnh thận mạn tính có các con đường viêm liên kết với nhau, có thể góp phần vào sự tiến triển của bệnh.
Từ răng miệng đến thận: Viêm nha chu không chỉ là nhiễm trùng tại chỗ. Vi khuẩn dưới đường viền nướu gây viêm mạn tính, tạo ra các tín hiệu viêm xâm nhập vào máu đến thận. Tại đây, chúng thúc đẩy hình thành sẹo, tổn thương mạch máu nhỏ và đẩy nhanh suy giảm chức năng lọc của thận. Đáng chú ý, những người bị viêm nha chu có tỷ lệ mắc bệnh thận mạn tính nặng cao hơn gấp 2,4 lần, theo trang tin nghiên cứu Study Finds.
Từ thận đến răng miệng: Khi chức năng thận suy giảm, chất thải tích tụ trong máu làm suy yếu hệ miễn dịch, khiến nướu dễ bị tổn thương và chậm lành hơn. Ngoài ra, sự mất cân bằng khoáng chất do bệnh thận còn làm suy yếu xương hàm theo thời gian.
Nghiên cứu mang lại tin vui rằng điều trị nướu răng chỉ bằng cách làm sạch sâu răng và loại bỏ mảng bám, giúp giảm đáng kể viêm nhiễm ở bệnh nhân thận. Thử nghiệm cho thấy điều trị nướu răng giúp cải thiện chức năng thận cho bệnh nhân thận, thông qua cải thiện chỉ số cystatin C, một chỉ số được sử dụng để đánh giá chức năng thận (nồng độ Cystatin C tăng cao trong máu cho thấy thận bị suy giảm chức năng). Đặc biệt, ở bệnh nhân chờ ghép thận, điều trị nướu trước phẫu thuật giúp giảm đáng kể các biến cố tim mạch.
Bằng chứng trong nghiên cứu đã chứng minh rằng đánh răng 2 lần mỗi ngày là yếu tố quan trọng đối với việc duy trì chức năng thận, đặc biệt là trong việc quản lý bệnh mạn tính và giảm nguy cơ tim mạch cho bệnh nhân thận, theo Study Finds.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng: Răng miệng và thận liên quan chặt chẽ với nhau. Để bảo vệ chức năng thận, bạn cần chăm sóc tốt răng miệng, như đánh răng 2 lần mỗi ngày và thăm khám nha khoa định kỳ. Đồng thời, sức khỏe răng miệng nên được đưa vào danh mục kiểm tra trong quá trình chăm sóc thận.
Bài toán mức sinh thấp của siêu đô thị hơn 14 triệu dân được nêu ra tại tập huấn Luật Dân số 2025 do Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy phối hợp Chi cục Dân số TP HCM tổ chức ngày 9/4. Tổng tỷ suất sinh năm 2025 chỉ đạt 1,51 con/phụ nữ, thấp hơn nhiều so với mức thay thế 2,1. Hơn 20 năm qua, tỷ suất sinh của thành phố luôn thấp nhất cả nước, để lại nhiều hệ lụy như già hóa dân số nhanh, thiếu hụt nguồn lao động, ảnh hưởng đến an sinh xã hội.
Theo đại diện Chi cục Dân số TP HCM, áp lực chi phí sống, nhà ở, nuôi dạy con khiến nhiều người trẻ kết hôn muộn, sinh ít hoặc không muốn sinh con; trong khi hạ tầng y tế, giáo dục, môi trường sống chưa đáp ứng kỳ vọng nuôi con tốt.
Bên cạnh đó, thay đổi quan điểm sống, trình độ học vấn tăng cùng tình trạng vô sinh, phá thai gia tăng cũng góp phần kéo mức sinh xuống thấp. Năm 2025, tuổi kết hôn trung bình lần đầu tại TP HCM là 29,8, cao hơn mức 27,3 của cả nước.
GS.TS Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Bí thư Thành ủy TP HCM, cho rằng sinh con trong thế kỷ 21 không còn là chuyện riêng mà liên quan đến vận mệnh quốc gia. Theo ông, nguyên nhân cốt lõi khiến người trẻ đô thị e ngại lập gia đình và sinh con là áp lực tài chính, đặc biệt chi phí nhà ở, giáo dục và y tế.
"Họ làm như vậy là phù hợp với thực tế, khi cho rằng nếu không nuôi con tử tế thì không nên sinh", ông nói, thêm rằng quan niệm này khác xa tư duy "trời sinh voi, trời sinh cỏ" trước đây.
Ông cảnh báo việc thiếu điều kiện nuôi dạy con có thể dẫn đến hệ quả lâu dài như những gì Hàn Quốc và Nhật Bản từng dự báo, khi dân số suy giảm mạnh nếu không có thay đổi đột phá về chính sách việc làm và điều kiện sống. Dân số trong độ tuổi lao động giảm là một trong những nguyên nhân khiến kinh tế Nhật Bản trì trệ 30 năm (1996-2025) sau 33 năm tăng trưởng vượt bậc.
Khoảng cách giữa "lương tối thiểu" và "lương đủ sống" là rào cản lớn. Lương tối thiểu chỉ đảm bảo mức sống cá nhân, trong khi quyết định sinh và nuôi con đòi hỏi thu nhập đủ để trang trải chi phí dài hạn. Khảo sát tại TP HCM cho thấy nhiều lao động thu nhập thấp không muốn sinh con hoặc phải trì hoãn kế hoạch làm cha mẹ.
Để giải quyết vấn đề, ông Nhân đề xuất cần đảm bảo các điều kiện nền tảng như nhà ở, dịch vụ giữ trẻ từ 6 tháng tuổi, bảo hiểm y tế, thu nhập đủ sống, bảo hiểm xã hội và sự đồng thuận xã hội trong việc coi sinh con là yếu tố quan trọng với tương lai quốc gia.
TP HCM đang triển khai nhiều giải pháp nhằm cải thiện mức sinh theo hướng kết hợp chính sách hỗ trợ và truyền thông. Thành phố đã ban hành chính sách khuyến khích sinh đủ hai con, như hỗ trợ 5 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi, đồng thời triển khai đề án chăm sóc sức khỏe toàn diện giai đoạn 2025-2030.
Song song, các đề xuất tập trung giảm gánh nặng cho gia đình trẻ như hỗ trợ nhà ở, thuế, thu nhập, thời gian nghỉ thai sản, dịch vụ giữ trẻ và chi phí nuôi con. Về lâu dài, giải pháp cốt lõi là tạo môi trường sống đủ tốt để người dân yên tâm sinh và nuôi con, đồng thời thu hút lao động nhập cư để bù đắp thiếu hụt nhân lực.