Theo đó, Bộ GD-ĐT cho phép tuyển sinh nhiều đợt trong năm, đa dạng phương thức và mở rộng quyền tự chủ cho nhà trường. Tuy nhiên còn những băn khoăn vì có một số điểm chưa rõ, đặc biệt liên quan đến liên thông hệ thống và đối tượng tuyển sinh.
ThS Võ Công Trí, Phó hiệu trưởng thường trực Trường cao đẳng Kỹ thuật – Du lịch Sài Gòn (TP.HCM), cho rằng dự thảo đang đi theo hướng tích cực, mở thêm dư địa cho các cơ sở đào tạo.
Các trường được phép tuyển sinh nhiều đợt trong năm sẽ chủ động hơn trong kế hoạch tuyển sinh, đồng thời tạo điều kiện để người học có thêm cơ hội lựa chọn thời điểm nhập học phù hợp với nhu cầu.
Dự thảo cho phép thí sinh nộp hồ sơ cả trực tiếp và trực tuyến. Ông Trí nhận xét nếu so với xét tuyển đại học chủ yếu theo các đợt chung và đăng ký trên hệ thống trong khung thời gian cố định, cách thức đăng ký giáo dục nghề nghiệp linh hoạt hơn, giảm áp lực về thời điểm và thủ tục cho cả người học và các trường.
“Đặc biệt dự thảo vẫn mở ra khả năng để các trường cao đẳng tham gia hệ thống tuyển sinh chung của Bộ GD-ĐT cùng với các trường đại học, qua đó giúp mở rộng khả năng tiếp cận thí sinh ngay trong giai đoạn đăng ký nguyện vọng. Các trường có thể vừa tham gia hệ thống chung để tiếp cận nguồn thí sinh rộng hơn vừa chủ động triển khai các phương thức tuyển sinh riêng của mình”, ông Trí nói.
ThS Phạm Duy Đông – Phó hiệu trưởng Trường cao đẳng Cơ giới và Thủy lợi (Đồng Nai) – đánh giá dự thảo trao quyền cho cơ sở đào tạo tự chủ trong việc lựa chọn phương thức tuyển sinh. Nhà trường có thể quyết định xét tuyển, thi tuyển hoặc kết hợp giữa xét tuyển và thi tuyển tùy theo đặc thù ngành nghề và định hướng đào tạo được quyền tự chủ trong cách tuyển sinh.
Ngoài ra dự thảo có đề cập số lượng tuyển sinh thực tuyển hằng năm theo từng nhóm ngành, nghề đào tạo không vượt quá 15% so với số lượng đã xác định. Đối với những ngành, nghề có tỉ lệ người học bỏ học, thôi học hoặc chuyển sang ngành khác trong hai năm liên tiếp vượt quá 20%, dự thảo cho phép cơ sở đào tạo được xác định số lượng tuyển sinh tăng thêm tối đa 15%.
Theo ông Đông, đây là cách tiếp cận “khá sát với thực tế” bởi trong quá trình học tập, đặc biệt ở năm nhất, không ít sinh viên thay đổi lựa chọn do nhiều nguyên nhân khác nhau. “Quy định này giúp các trường có dư địa để điều chỉnh kế hoạch tuyển sinh, tránh tình trạng thiếu hụt người học ở một số ngành, nghề”, ông Đông nhận xét.
TS Đặng Minh Sự – Phó chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP.HCM – nói dự thảo quy chế lần này có nhiều điểm tích cực, đặc biệt ở việc tăng tính linh hoạt và mở rộng quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên ông cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện một số nội dung để đảm bảo tính đồng bộ trong toàn hệ thống.
Chẳng hạn vấn đề liên thông và tích hợp với hệ thống tuyển sinh chung của Bộ GD-ĐT cùng các trường đại học. Theo ông, dự thảo hiện mới dừng ở mức khuyến khích, chưa làm rõ việc tham gia hệ thống này là bắt buộc hay tự nguyện đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Do vậy, ông Sự đề xuất cần quy định rõ lộ trình tham gia hệ thống tuyển sinh chung theo hướng bắt buộc nhằm đảm bảo sự thống nhất trong toàn hệ thống. Đồng thời cần xây dựng cơ chế chia sẻ và liên thông dữ liệu giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học để hạn chế trùng lặp trong tuyển sinh, mở rộng nguồn thí sinh cho cả hai hệ thống.
ThS Ngô Thị Quỳnh Xuân, Hiệu trưởng Trường cao đẳng Du lịch Sài Gòn (TP.HCM), nói khâu phân nhóm ngành cần được xem xét điều chỉnh phù hợp thực tiễn đào tạo. Cụ thể, theo khoản 4 điều 3 của dự thảo, các trường chỉ được tự điều chỉnh số lượng tuyển sinh giữa các ngành cụ thể (mã cấp IV) khi các ngành này thuộc cùng một nhóm ngành (mã cấp III) và cùng trình độ đào tạo.
Trong khi đó theo danh mục hiện hành, lĩnh vực du lịch – dịch vụ lại đang bị tách thành hai nhóm riêng biệt gồm nhóm Du lịch (mã 68101) và nhóm Khách sạn, nhà hàng (mã 68102). Theo bà, cách phân nhóm này khiến các trường không thể linh hoạt điều tiết chỉ tiêu giữa các ngành có tính chất liên thông rất cao.
Ví dụ không thể giảm chỉ tiêu ngành hướng dẫn du lịch để tăng cho quản trị khách sạn dù thực tế đây là các lĩnh vực gắn bó chặt chẽ trong cùng một hệ sinh thái dịch vụ.
Bà Xuân kiến nghị về lâu dài có thể rà soát và điều chỉnh danh mục ngành, nghề đào tạo theo hướng gộp các lĩnh vực du lịch và khách sạn – nhà hàng vào cùng một nhóm ngành (mã cấp III).
Trường hợp chưa thể điều chỉnh ngay cần bổ sung cơ chế mở trong quy chế tuyển sinh, cho phép các cơ sở đào tạo được tự chủ điều chỉnh chỉ tiêu giữa các nhóm ngành (mã cấp III) nếu cùng thuộc một lĩnh vực lớn (mã cấp II).
Trường tiểu học và trung học Sasayama, từng nổi tiếng với tên gọi dài nhất tại Nhật Bản, đã chính thức đóng cửa từ đầu tháng 4, khép lại lịch sử hơn 70 năm, do số lượng học sinh theo học ngày càng ít.
Tên chính thức của trường là “Trường tiểu học và trung học cơ sở Sasayama thuộc Liên hiệp các trường tiểu học và trung học Sasayama do thị trấn Ainan, quận Minamiuwa, tỉnh Ehime và thành phố Sukumo, tỉnh Kochi quản lý” (tên gọi tắt là Trường tiểu học và trung học Sasayama). Ngôi trường này nổi tiếng vì có tên dài nhất tại Nhật Bản.
Ngôi trường tọa lạc ở thị trấn Ainan, tỉnh Ehime, sát con sông Shinogawa là ranh giới giữa hai tỉnh Ehime và tỉnh Kochi. Cách đây 70 năm, cư dân ở thị trấn hai bên bờ sông thường xuyên qua lại và cùng nhau thống nhất thành lập trường trung học vào năm 1949, trường tiểu học vào năm 1952 và đặt tên gọi mang dấu ấn của cả hai địa phương.
Theo thông lệ của trường, học sinh sau khi nhập học đều phải thường xuyên luyện đọc tên trường trong các giờ ra chơi đến khi thuộc lòng.
Mặc dù với những người khác việc đọc tên trường quá dài là một phiền toái, nhưng đối với không ít cựu học sinh của trường thì đây lại là niềm tự hào, là “điểm nhấn” khi giới thiệu về bản thân.
Vào thời kỳ cao điểm nhất là cuối những năm 50 của thế kỷ trước, trường có khoảng 300 học sinh theo học, nhưng sau đó số lượng giảm dần. Đến năm học 2025 chỉ còn 9 học sinh, trong đó có 3 học sinh tiểu học và 6 học sinh trung học.
Điều này khiến việc duy trì vận hành trường gặp nhiều khó khăn.
Hiện phía tỉnh Kochi không còn học sinh nào theo học và từ tháng 4, các học sinh còn lại của trường sẽ chuyển sang các trường khác trong thị trấn Ainan, với khoảng 110 học sinh tiểu học và 60 học sinh trung học.
Việc đóng cửa ngôi trường nhiều năm tuổi để lại không ít tiếc nuối cho những người dân từng gắn bó từ khi còn nhỏ. Tuy nhiên điều này cũng phản ánh một thực trạng tỉ lệ sinh giảm ngày càng nghiêm trọng tại Nhật Bản, đặc biệt là tại các địa phương vùng sâu, vùng xa, khiến nhiều trường học khó duy trì đủ số lượng học sinh cần thiết và buộc phải sáp nhập với các trường khác.
Từ luận văn tốt nghiệp của sinh viên Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), một nghiên cứu về kỹ thuật mới giúp AI trả lời câu hỏi trắc nghiệm ổn định hơn được đăng trên tạp chí quốc tế Q1.
Khởi nguồn từ một luận văn tốt nghiệp đại học, công trình nghiên cứu của thầy trò khoa khoa học và kỹ thuật máy tính của trường này đã được công bố trên tạp chí quốc tế hàng đầu về trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục sau khi trải qua nhiều vòng phản biện.
Bài báo Enhancing Large Language Model Performance for Automatic Zero-Shot Multiple-Choice Question Answering via Single-Token Logit Prompting của nhóm tác giả từ Việt Nam đã được công bố trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence.
Đây là tạp chí mở thuộc Nhà xuất bản Elsevier, hiện xếp hạng Q1, đứng đầu lĩnh vực giáo dục (Education), hạng 4 trong lĩnh vực khoa học máy tính ứng dụng (Computer Science Applications) và hạng 5 lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI- Artificial Intelligence), theo SCImago.
Nhóm tác giả gồm Đặng Phú Quốc - cựu sinh viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), Trần Trương Tuấn Phát - giảng viên Trường ĐH Bách khoa (đồng tác giả chính), TS Vũ Đức Lý (giảng viên Trường ĐH Quốc tế Miền Đông), Nguyễn Song Thiên Long và Võ Thị Như Quỳnh cùng là sinh viên năm thứ ba Trường ĐH Bách khoa, được PGS.TS Quản Thành Thơ - Trưởng khoa khoa học và kỹ thuật máy tính Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM) hướng dẫn.
Công trình tập trung vào đề xuất kỹ thuật viết lời nhắc (prompting) mới mang tên Single-Token Logit (STL) nhằm nâng cao độ chính xác và tính ổn định của các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) khi tự động trả lời câu hỏi trắc nghiệm (MCQ). Tác giả Đặng Phú Quốc cho biết nghiên cứu xuất phát từ luận văn tốt nghiệp đại học của anh.
"Ban đầu mình chỉ đặt mục tiêu giải quyết tốt một bài toán chuyên môn về mô hình ngôn ngữ lớn, chứ không kỳ vọng sẽ được công bố trên tạp chí thứ hạng cao. Sau khoảng 28 tháng kể từ khi bắt tay nghiên cứu, đến tháng 3-2026 công trình đã được đăng trên tạp chí Computers and Education: Artificial Intelligence", anh Quốc chia sẻ.
Thông tin thêm, anh Trần Trương Tuấn Phát cho hay nhóm đã trải qua nhiều vòng phản biện kín hai chiều. Mỗi vòng đều yêu cầu những cải tiến đáng kể như bổ sung thí nghiệm, làm rõ cách diễn giải, củng cố định hướng nghiên cứu và tái cấu trúc bản thảo.
Việc lựa chọn nơi nộp bài được nhóm thực hiện theo gợi ý của Nhà xuất bản Elsevier. Chỉ sau khi được chấp nhận, nhóm mới có thông tin đây là tạp chí đứng đầu thế giới trong lĩnh vực giáo dục (Education). "Đó là kết quả đặc biệt mà chính nhóm tác giả cũng không ngờ tới", PGS.TS Quản Thành Thơ nói thêm.
Từ thực tế nghiên cứu, nhóm nhận thấy hiện tượng gọi là giới hạn Multiple-Choice Symbol Binding (MCSB) làm giảm đáng kể độ tin cậy của LLM, nhất là khi ứng dụng vào chấm bài hay xây dựng ngân hàng câu hỏi của lĩnh vực giáo dục. Vì thế, nhóm đề xuất kỹ thuật Single-Token Logit (STL).
Thay vì đưa toàn bộ đáp án và yêu cầu mô hình chọn A - B - C - D như thông thường, STL tách từng đáp án riêng biệt và yêu cầu mô hình đánh giá theo dạng đúng - sai cho từng lựa chọn.
Hệ thống lần lượt hỏi "Đáp án này có đúng không?" và sử dụng xác suất của token "yes" để đánh giá mức độ phù hợp. "Cơ chế này giúp mô hình xác minh từng lựa chọn một cách độc lập, không bị chi phối bởi vị trí hay nhãn đáp án, khắc phục trực tiếp hạn chế của giới hạn MCSB", anh Phát nói về ưu điểm của nghiên cứu.
Nghiên cứu còn tích hợp kỹ thuật Retrieval-Augmented Generation (RAG) cho phép mô hình truy xuất kiến thức bên ngoài khi cần, giúp tăng độ chính xác theo ngữ cảnh cũng như kiểm tra độ ổn định của giải pháp trong các điều kiện khác nhau.
Khi thử nghiệm trên ba bộ dữ liệu khoa học chuẩn gồm ARC, OpenBookQA và SciQ, STL cho kết quả ngang bằng hoặc vượt trội so với nhiều phương pháp phổ biến với mức cải thiện lên tới 11 điểm phần trăm trong một số cấu hình, đồng thời giảm đáng kể chi phí tính toán.
Về tiềm năng ứng dụng, kỹ thuật STL có thể hỗ trợ giáo viên rà soát đề thi, tự động gợi ý đáp án cho câu hỏi chưa có lời giải, hỗ trợ chấm bài và phát triển các hệ thống học tập thông minh có khả năng giải thích kết quả đánh giá.
Theo PGS.TS Quản Thành Thơ, công bố không chỉ đóng góp xuất sắc về mặt giá trị học thuật đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực LLM mà còn cho thấy việc nâng cao độ tin cậy của AI không nhất thiết phải đến từ mô hình lớn hơn hay kiến trúc phức tạp. "Đôi khi chỉ một thay đổi nhỏ trong cách thiết kế lời nhắc (prompt) cũng có thể tạo ra khác biệt lớn trong ứng dụng thực tế", ông Thơ nhận định.
Ngày 10/4, UBND xã Hòa Vang công bố triển khai chính sách này, trở thành địa phương đầu tiên miễn phí sách giáo khoa cho học sinh từ tiểu học đến THPT.
Trước đó, xã đã huy động gần 1,5 tỷ đồng để mua mới hơn 74.000 cuốn sách. Kết hợp với mô hình "Tủ sách dùng chung" hiện có, tổng kho sách của địa phương hiện đạt hơn 91.000 cuốn, đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho hơn 7.000 học sinh trên địa bàn. Các em sẽ mượn sách từ thư viện và hoàn trả khi kết thúc năm học.
"Việc này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho người dân mà còn giáo dục học sinh ý thức giữ gìn tài sản chung", ông Lê Phú Nguyện, Chủ tịch UBND xã Hòa Vang nói. Theo ông, việc cả nước dùng chung một bộ sách giáo khoa giúp địa phương thuận lợi hoàn thành mục tiêu này sớm hơn dự kiến.
Chủ trương miễn phí sách giáo khoa được đề cập trong Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, được Quốc hội thông qua hồi tháng 12/2025.
Theo dự kiến của Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc này được triển khai trong cả nước từ năm học 2029-2030. Nhà nước sẽ đầu tư mua sắm cho thư viện, học sinh và giáo viên được mượn sách để dùng trong học kỳ hoặc năm học, hoàn trả khi dùng xong.