Quy định số 19-QĐ/TW quy định mục đích, yêu cầu, nguyên tắc; nội dung, phương thức; trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên; chế độ kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử lý vi phạm trong công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Quy định này áp dụng đối với các tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên trong Đảng.
Quy định số 19-QĐ/TW nêu rõ mục đích nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ, năng lực công tác, khả năng xử lý hiệu quả các biến động, tình huống thực tiễn phức tạp; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; kiên định nền tảng tư tưởng và các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng.
Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; giữ vững định hướng chính trị, tư tưởng trong mọi hoạt động của tổ chức Đảng và của cán bộ, đảng viên.
Đồng thời, nhằm tăng cường xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, để Đảng ta thực sự đạo đức và văn minh, nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện và sức chiến đấu của Đảng trong lãnh đạo, cầm quyền và hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng.
Giữ gìn uy tín, tính tiên phong, gương mẫu, sự trong sạch, đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo động lực, sự đồng thuận, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Xây dựng môi trường chính trị, tư tưởng trong sáng, lành mạnh trong Đảng, hệ thống chính trị và xã hội; bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, xây dựng văn hóa trong Đảng; củng cố sức mạnh nội sinh và uy tín của Đảng; phát huy dân chủ gắn với trách nhiệm cá nhân trong Đảng; đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Về yêu cầu, công tác chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng; phải giữ vững nguyên tắc và không ngừng đổi mới, sáng tạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm vai trò đi trước, mở đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn; tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội và niềm tin của nhân dân nhằm hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân.
Công tác chính trị phải tạo động lực cho sự đổi mới tư duy chiến lược, nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, đường lối phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; mọi quyết sách và hành động phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân.
Cùng đó, tiến hành thường xuyên, liên tục, khẩn trương, nghiêm túc, thực chất, đúng tiến độ, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, chuyển đổi số trong công tác chính trị, tư tưởng.
Quy định nêu 4 nguyên tắc trong công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Công tác chính trị, tư tưởng phải lấy mục tiêu kiên trì, bảo vệ và phát huy “4 kiên định” làm định hướng hành động; mọi hoạt động của tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên phải nhất quán tuyệt đối về chính trị, tư tưởng. Quán triệt quan điểm chính trị, tư tưởng và văn hóa tạo ra nội lực tinh thần để Đảng lãnh đạo dân tộc đi xa và đi vững trong kỷ nguyên mới.
Chấp hành nghiêm túc, đầy đủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư; vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và trách nhiệm nêu gương của cấp ủy các cấp, nhất là bí thư cấp uỷ. Thực hành và phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phát ngôn và hành động trong Đảng.
Chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, đánh giá, định hướng dư luận xã hội và dự báo sát diễn biến tình hình quốc tế và trong nước để kịp thời định hướng chính trị, tư tưởng trong Đảng, trong xã hội, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, không để bị động, bất ngờ.
Công tác chính trị, tư tưởng phải gắn chặt, liên thông với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, kiểm tra, giám sát, dân vận và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ chính trị; bảo đảm rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ chế tài, có tiêu chí cụ thể để lượng hoá, kiểm tra, giám sát; lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo cao nhất. Cấp ủy, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu chịu trách nhiệm cao nhất trong đánh giá về chính trị, tư tưởng của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên thuộc quyền quản lý theo phân cấp.
Theo quy định, công tác chính trị gồm các nội dung: Giữ vững bản chất cách mạng, đồng thời vận dụng linh hoạt, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và sự phát triển của thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển nhanh, bền vững đất nước; bảo đảm thống nhất về ý chí, hành động, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng.
Giữ vững định hướng chính trị, kiên định lập trường tư tưởng trong mọi hoạt động; bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Trung ương, cấp ủy các cấp; thực hiện nghiêm túc, kịp thời, hiệu quả chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư.
Gắn công tác chính trị với công tác tư tưởng, tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, kiểm tra, giám sát và dân vận, đẩy mạnh công tác định hướng dư luận xã hội; tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội.
Về nội dung công tác tư tưởng, quy định nhấn mạnh việc thống nhất nhận thức và hành động về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về tầm nhìn và mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Xây dựng văn hoá Đảng, thiết lập chuẩn mực đạo đức cách mạng, sự tiên phong, gương mẫu, liêm chính, kỷ luật của cán bộ, đảng viên; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy giá trị văn hoá Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại để củng cố, xây dựng, hoàn thiện, thực hiện văn hoá lãnh đạo, văn hoá công vụ; bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu đồng bào; khơi dậy tinh thần tự chủ chiến lược, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Cùng đó, đổi mới phương thức công tác tư tưởng theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, xây dựng cơ sở dữ liệu số; nâng cao năng lực truyền thông chính trị hiện đại, chủ động nắm, phân tích, dự báo diễn biến tư tưởng, tâm trạng xã hội; kịp thời định hướng dư luận xã hội, nhất là trong các vấn đề phức tạp, nhạy cảm.
Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng; giữ vững sự thống nhất ý chí và hành động; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone chúc mừng Thủ tướng Lê Minh Hưng vừa được Quốc hội tín nhiệm bầu làm Thủ tướng.
Thủ tướng Lào khẳng định sẵn sàng hợp tác với Thủ tướng Lê Minh Hưng để thúc đẩy và phát huy mối quan hệ giữa hai nước, nhất là triển khai thực chất, hiệu quả kết quả cuộc gặp hai Bộ Chính trị cũng như kết quả Kỳ họp lần thứ 48 Ủy ban liên Chính phủ Lào - Việt Nam.
Về phía Trung Quốc, Thủ tướng Lý Cường chúc mừng Thủ tướng Lê Minh Hưng và tiếp tục khẳng định Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng hữu nghị, đối tác hợp tác quan trọng với nhiều lợi ích chiến lược chung. Dưới sự dẫn dắt của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai bên ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.
Thủ tướng Lý Cường bày tỏ sẵn sàng cùng Thủ tướng Lê Minh Hưng thực hiện các nhận thức chung quan trọng của lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước, đẩy nhanh xây dựng cục diện hợp tác cùng thắng, cùng có lợi, qua đó đóng góp tích cực cho quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện Trung Quốc - Việt Nam.
Thủ tướng Campuchia Hun Manet chúc mừng Thủ tướng Lê Minh Hưng và tin tưởng Việt Nam sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, không ngừng nâng cao vai trò và vị thế ở khu vực và trên thế giới.
Thủ tướng Hun Manet đánh giá cao mối quan hệ bền chặt, hữu nghị lâu đời giữa hai nước, được xây dựng trên tinh thần láng giềng tốt đẹp, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài; mong sớm được gặp Thủ tướng Lê Minh Hưng để trao đổi về các biện pháp thúc đẩy hợp tác song phương cũng như tăng cường phối hợp trong khuôn khổ ASEAN và các cơ chế đa phương khác, vì lợi ích chung của nhân dân hai nước.
Ngày 21.4, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án luật sửa đổi 4 luật về thuế. Theo quy định hiện hành, ngưỡng chịu thuế thu nhập cá nhân với hộ kinh doanh là từ 500 triệu đồng. Chính phủ đề xuất không quy định cụ thể về ngưỡng doanh thu nữa mà sẽ giao Chính phủ quy định.
Phát biểu tại tổ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cho biết nội dung liên quan đến các sắc thuế đã được Quốc hội thông qua hồi tháng 12.2025, nhưng trong thực tiễn có phát sinh nên cần có sự điều chỉnh. Trong đó, với ngưỡng chịu thuế 500 triệu đồng, cá nhân, hộ kinh doanh đang bộc lộ khó khăn trước tác động của giá xăng dầu và diễn biến khu vực. Nhóm này cùng với các doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa trở thành những đối tượng cần được ưu tiên, quan tâm.
Trong bối cảnh trên, lãnh đạo Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính khẩn trương nghiên cứu phương án để đề xuất Quốc hội ngay trong kỳ họp này. "Chắc chắn phải nâng ngưỡng chịu thuế lên", Thủ tướng nói và cho biết theo báo cáo của Bộ Tài chính thì ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh là khoảng 1 tỉ đồng/năm.
Song song với việc điều chỉnh ngưỡng chịu thuế để tháo gỡ khó khăn cho hộ kinh doanh, Thủ tướng cũng nhấn mạnh phải tạo sự công bằng với DN nhỏ và vừa, khuyến khích các cá nhân, hộ kinh doanh chuyển đổi lên mô hình DN, vì vậy, việc điều chỉnh ngưỡng chịu thuế phải đảm bảo sự phù hợp.
Cạnh đó, Thủ tướng khẳng định khi giao cho Chính phủ điều chỉnh ngưỡng chịu thuế, chắc chắn sẽ có quy định về các tiêu chí, nguyên tắc chặt chẽ nhằm tránh kẽ hở làm thất thu thuế. "Lẽ ra phải có dự thảo nghị định hướng dẫn thi hành kèm theo dự thảo luật, nhưng vì thời gian gấp nên Bộ Tài chính đang hoàn thiện. Dự kiến khi Quốc hội thông qua chủ trương, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ để ban hành ngay, kịp thời điểm luật có hiệu lực", Thủ tướng cho hay.
Cùng ngày, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại hội trường về các báo cáo phát triển KT-XH, đầu tư công... Nêu ý kiến thảo luận, đại biểu (ĐB) Lê Hoàng Anh (đoàn Gia Lai) cho rằng cần thực hiện ngay việc thu phí sử dụng đất theo hiệu quả kinh tế và thời gian đưa đất vào sử dụng. Trước mắt, ông đề nghị Quốc hội đưa vào luật Thủ đô thông qua tại kỳ họp này và cuối năm đưa vào luật Đô thị đặc biệt thực hiện tại TP.HCM quy định: đất dự án chậm triển khai quá 24 tháng phải chịu phí tăng dần theo thời gian; nhà đất thứ hai trở lên không đưa vào sử dụng hoặc cho thuê phải áp dụng mức phí lũy tiến phù hợp.
Toàn bộ nguồn thu này đưa vào Quỹ nhà ở xã hội, tái thiết chung cư cũ và hạ tầng đô thị thiết yếu. Giải pháp này sẽ "đánh đúng vào động cơ đầu cơ, buộc đất quay về giá trị sử dụng thật, tạo không gian cho tăng trưởng thực tế".
ĐB đoàn Gia Lai cũng đề cập nhiều dự án kéo dài khiến chi phí tăng, ICOR cao (hiệu quả đầu tư thấp). Đơn cử như dự án quan trọng quốc gia cao tốc Pleiku - Quy Nhơn, chủ đầu tư đã thi công gần 5 tháng, đã kiến nghị nhiều lần bố trí 9.100 tỉ đồng năm 2026 nhưng đến nay vẫn chưa được giao vốn. Nhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng 2 con số là khả thi, nhưng ĐB cho rằng chỉ đạt được khi "dũng cảm cải cách đúng chỗ, không phải bơm thêm tiền vào hệ thống cũ, không phải ban hành thêm văn bản, mà phải thay đổi cơ chế phân bổ vốn, buộc mỗi đồng đầu tư phải chứng minh giá trị của nó".
Chỉ rõ các bất cập trong vấn đề vốn, ĐB Nguyễn Như So (đoàn Bắc Ninh) cho rằng cần tái cấu trúc cơ chế dẫn vốn của nền kinh tế để dòng vốn đi đúng địa chỉ, đúng nhu cầu và phục vụ trực tiếp các động lực tăng trưởng. Trong khi công nghệ và năng suất chưa thể bứt phá ngay trong ngắn hạn, vốn đầu tư vẫn là trụ cột chính của tăng trưởng. "Vấn đề hiện nay không phải là thiếu vốn mà là cách dòng vốn đang được phân bổ và sử dụng. Hệ thống tài chính đang đối mặt với một nghịch lý kép khi tỷ lệ tín dụng trên GDP đã lên tới 146% nhưng nền kinh tế vẫn thiếu vốn trung và dài hạn", ông So nêu.
Ông So chỉ rõ nghịch lý hơn 50% doanh thu của 500 DN tư nhân lớn nhất đến từ lĩnh vực tài chính và bất động sản, trong khi công nghiệp chế tạo nền tảng và năng lực cạnh tranh chỉ chiếm 10%. ĐB đề xuất cần minh bạch để mỗi đồng vốn ngân sách có thể kéo theo nhiều đồng vốn xã hội, đồng thời hình thành cơ chế lựa chọn và nuôi dưỡng các DN "đầu tàu" trong các ngành then chốt.
Mặt khác, ĐB Nguyễn Thị Kim Thoa (đoàn Vĩnh Long) cho rằng lượng tài sản lớn trong dân, đặc biệt là vàng, vẫn nằm ngoài hệ thống tài chính. Điều này cho thấy nguồn lực trong dân rất dồi dào nhưng còn phân tán, chưa được dẫn dắt vào sản xuất và kinh doanh. Từ đó, ĐB đề xuất cần có giải pháp phát huy mạnh mẽ, khơi thông dòng vốn trong dân cư, chuyển từ tích lũy sang đầu tư, phát triển đa dạng các kênh đầu tư chính thức, an toàn, dễ tiếp cận, đặc biệt là các sản phẩm phù hợp trong dân.
Bà Thoa đề xuất các phương án, các hình thức như quỹ đầu tư minh bạch hoặc các mô hình huy động vốn trong cộng đồng có kiểm soát. Khi người dân có nhiều lựa chọn đầu tư phù hợp, dòng tiền nhàn rỗi sẽ dẫn dắt vào nền kinh tế thay vì phân tán và nằm trong dân gây kém hiệu quả. Đồng thời, cần minh bạch dòng vốn thông qua các nền tảng số, đảm bảo quyền lợi khi đầu tư. Khi niềm tin được củng cố và hệ thống tài chính vận hành thuận tiện, minh bạch, dòng vốn trong dân sẽ được khơi thông hiệu quả.
Thảo luận về đầu tư công, ĐB Lê Hữu Trí (đoàn Khánh Hòa) nhấn mạnh cần xóa bỏ triệt để cơ chế xin - cho và biến đầu tư công là "chùm khế ngọt" vốn đã và đang là hiện tượng phổ biến, sinh động của tiêu cực, tham nhũng. Đánh giá tính hiệu quả các dự án đầu tư công cần làm từ khâu thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư. Cạnh đó, cần quy định rõ trách nhiệm cá nhân người quyết định chủ trương đầu tư, người thẩm định dự án. Đồng thời, phải có cơ chế giám sát từ xa, từ sớm, xử lý trách nhiệm nghiêm minh.
ĐB Nguyễn Duy Minh (đoàn Đà Nẵng) thì cho rằng một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là quy trình thủ tục đầu tư còn phức tạp, thiếu liên thông dẫn đến thời gian chuẩn bị cho dự án thường kéo dài. Ông đề nghị Chính phủ ưu tiên sửa đổi đồng bộ các luật liên quan trực tiếp đến đầu tư công trong năm 2026 theo hướng thiết lập quy trình thống nhất, liên thông, giảm tối đa thủ tục trung gian và cho phép triển khai song song với các bước một cách phù hợp. Ông cũng đề nghị kiên quyết đưa ra khỏi danh mục đối với các dự án mang tính "giữ chỗ". Trên thực tế cũng có nhiều dự án quy mô nhưng đến nay chưa giải phóng mặt bằng, người dân trong vùng dự án gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Đề xuất sửa luật Đấu thầu, ĐB Hoàng Xuân Tân (đoàn Quảng Trị) cho rằng nên tăng mức chỉ định thầu với công trình có tiêu chuẩn đồng nhất cho từng loại công trình. Cùng đó, tăng thẩm quyền phải đi kèm tăng trách nhiệm, chế tài cho chủ đầu tư khi thực hiện dự án. Đặc biệt, có cơ chế để chủ đầu tư nhanh gọn chấm dứt hợp đồng nếu vi phạm và có cơ chế cho nhà thầu đòi bồi thường do trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư, nhất là việc bàn giao mặt bằng chậm. Với các công trình lớn, cần thúc đẩy chính sách thu hút đầu tư tư nhân qua hình thức đối tác công - tư (PPP), giúp các địa phương thu hút vốn hiệu quả hơn.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đồng tình vấn đề nhiều ĐB nêu là "hiệu quả đầu tư là rất quan trọng". Nếu không cải thiện được chỉ số ICOR (hiện ở mức 6,4), để đạt tăng trưởng 2 con số thì tổng đầu tư xã hội phải lên tới 70% GDP. Do đó, mục tiêu là phải đưa ICOR về mức thấp hơn thông qua các giải pháp.
Lãnh đạo Bộ Tài chính cũng chia sẻ mục tiêu tăng trưởng 2 con số không hề dễ dàng. Trên thế giới từ năm 1946 đến nay chỉ có 13 quốc gia thực hiện thành công việc tăng trưởng liên tục 2 con số trên 10 năm để bứt phá từ quốc gia nghèo thành nước phát triển. Trong suốt thời kỳ đổi mới, VN mới chỉ có 2 năm tăng trưởng trên 9% và chưa bao giờ đạt mức 2 con số. Tuy nhiên, đây là mục tiêu phải thực hiện bằng được. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng trên 10% cho cả năm nay, các quý còn lại phải đạt mức tăng từ 10 - 11%.
Bộ Tài chính sẽ tham mưu Chính phủ rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng cho từng địa phương, bộ, ngành và DN phù hợp với điều kiện mới. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để đảm bảo vừa cung cấp đủ vốn cho nền kinh tế vừa ổn định vĩ mô.
Về giải ngân đầu tư công, Chính phủ sẽ chủ trì một hội nghị toàn quốc để đôn đốc tiến độ, nhằm bảo đảm hoàn thành mục tiêu năm 2026. Tập trung giải quyết các dự án tồn đọng về đất đai và các nguồn lực khác. Theo một thống kê chưa đầy đủ, đang tồn đọng khoảng 200.000 ha đất, tương đương 3,3 triệu tỉ đồng. Nếu so với kế hoạch đầu tư công của năm 2026 là 1,1 triệu tỉ đồng, thì con số này gấp 3 lần đầu tư công.
Thông tin thêm cuối phiên thảo luận, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định tăng trưởng cao và bền vững là yếu tố gắn bó chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, được ví như "hai cánh của một con chim" của nền kinh tế. "Chúng ta chỉ có thể đạt được tăng trưởng cao trong một thời gian dài khi có nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định và ngược lại", ông nói. Vì vậy, Chính phủ tiếp tục xác định ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết, nền tảng để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, liên tục và ổn định.
Về đổi mới mô hình tăng trưởng, T.Ư sẽ ban hành nghị quyết chuyên đề nhằm tiếp cận toàn diện hơn với nhiều nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện thành công chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Tuy nhiên, ngay từ nay, theo Phó thủ tướng, yêu cầu đặt ra là phải thực hiện chuyển đổi mạnh mẽ, tái cấu trúc nền kinh tế, đồng thời bảo đảm người dân được thụ hưởng thành quả phát triển. Đây cũng là thách thức lớn để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, bắt kịp, tiến cùng khu vực và thế giới, thực hiện các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn 2045.
Phó thủ tướng cũng cho hay Chính phủ đang chỉ đạo quyết liệt phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán nhằm trở thành một kênh huy động trung và dài hạn của nền kinh tế, chia sẻ "gánh nặng" với các ngân hàng - hiện vẫn là kênh cung cấp vốn trung, dài hạn chủ yếu của DN. Mục tiêu đến năm 2028, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt khoảng 120% GDP.
Sáng 7.4, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với 495/495 đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bầu Tổng Bí thư Tô Lâm giữ chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đây là lần thứ 2 Tổng Bí thư Tô Lâm được bầu giữ chức Chủ tịch nước. Trước đó, ngày 22.5.2024, ông được Quốc hội khóa XV bầu giữ chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2021 - 2026 và giữ chức vụ này tới ngày 21.10.2024.
Trước đó, trong phiên họp riêng sáng 7.4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã trình danh sách đề cử, Quốc hội đã thảo luận, biểu quyết thông qua danh sách để bầu Chủ tịch nước. Sau đó, Quốc hội đã tiến hành bầu Chủ tịch nước bằng hình thức bỏ phiếu kín. Kết quả kiểm phiếu vừa được báo cáo trước Quốc hội trước khi thông qua Nghị quyết bầu Chủ tịch nước.
Theo quy định của Hiến pháp, Chủ tịch nước sau khi được Quốc hội bầu phải thực hiện tuyên thệ nhậm chức.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (69 tuổi), quê quán tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, trình độ: GS Khoa học an ninh, tiến sĩ Luật học. Ông là Tổng Bí thư khóa XIII (từ tháng 8.2024), XIV; Ủy viên Bộ Chính trị các khóa XII, XIII, XIV; Ủy viên Trung ương Đảng các khóa XI, XII, XIII, XIV; Đại biểu Quốc hội các khóa XIV, XV, XVI.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trưởng thành từ ngành công an. Từ năm 1979, ông Tô Lâm trải qua nhiều chức vụ trong ngành công an và được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Công an vào năm 2010.
Tại Đại hội XII của Đảng (năm 2016), ông được bầu vào Ban Chấp hành T.Ư, Bộ Chính trị khóa XII, sau đó được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Công an. Tháng 1.2019, ông được phong cấp bậc hàm đại tướng. Tại Đại hội XIII (năm 2021), ông tiếp tục được bầu vào Trung ương Đảng, Bộ Chính trị khóa XIII, tiếp tục giữ chức Bộ trưởng Bộ Công an.
Ngày 3.8.2024, trên cương vị Chủ tịch nước, ông được Trung ương Đảng khóa XIII bầu Tổng Bí thư khóa XIII.
Tại Đại hội XIV của Đảng hồi tháng 1 vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV, sau đó được Trung ương Đảng bầu tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư khóa XIV. Tới tháng 3 vừa qua, Tổng Bí thư Tô Lâm trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI.