Đến ngày 9/4, hơn 200 đại học đã công bố phương án tuyển sinh năm nay, trong đó nhiều trường nêu học phí dự kiến. Hiện, Đại học Tân Tạo (Tây Ninh) có mức thu cao nhất – 150 triệu đồng với ngành Y khoa. Một số ngành ở vài trường thu dưới 18 triệu đồng như ở trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế; Học viện Quản lý giáo dục, Đại học Đông Đô (Hà Nội).
Học phí cao thường ở khối ngành Y Dược hoặc với các chương trình liên kết quốc tế, định hướng nghề nghiệp, chất lượng cao. Với chương trình chuẩn, các trường thu chủ yếu trong khoảng 20-40 triệu đồng.
So với năm ngoái, hầu hết tăng học phí trong khoảng 10%, một số trường tăng mạnh hơn như Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (khoảng 12-47%).
Học phí đại học năm 2025-2027 dự kiến như sau:
TT
Trường
Học phí (triệu đồng/năm)
1
Đại học Ngoại thương
28-32 (chương trình chuẩn)
34-39 (chương trình tích hợp)
50-54 (chất lượng cao)
50-70 (định hướng nghề nghiệp và phát triển quốc tế)
77-88 (tiên tiến)
2
Đại học Kinh tế Quốc dân
20-28 (chương trình chuẩn)
45-70 (tiên tiến, chất lượng cao, định hướng ứng dụng POHE)
3
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
31-67
4
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
19,1-40
5
Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
38-44
6
Trường Đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội
35-58
7
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
48 (chính quy)
93,3-111,2 (liên kết quốc tế)
8
Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
34,2-38,2
9
Đại học Dược Hà Nội
28-58 (hệ đại trà)
150 (liên kết đào tạo)
10
Đại học Công nghiệp Hà Nội
25-31 (chương trình chuẩn)
36-44 (đào tạo bằng tiếng Anh)
11
Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội
59-130
12
Học viện Ngân hàng
27,8-29,4 (chuẩn)
45 (chất lượng cao)
50 (liên kết quốc tế, định hướng Nhật)
13
Đại học Thương mại
25,75-30,69 (chương trình chuẩn)
42,35 (định hướng nghề nghiệp)
50 (chương trình tiên tiến)
65 (song bằng quốc tế)
14
Học viện Tài chính
25-35 (chương trình chuẩn)
50-55 (định hướng chứng chỉ quốc tế)
75-80 (liên kết đào tạo)
15
Đại học Công nghệ Giao thông vận tải
20-25 (chương trình chuẩn)
16
Đại học Xây dựng Hà Nội
20,9 (chương trình chuẩn)
37 (liên kết quốc tế)
17
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
18,1 (chương trình chuẩn)
38,2 (chương trình đạt kiểm định)
18
Đại học Mở Hà Nội
23,7-25,3
19
Học viện Phụ nữ Việt Nam
20,7-22,68
20
Học viện Quản lý giáo dục
17,9-20,9
21
Đại học Y tế công cộng
21,01-38,57
22
Đại học Thủ đô Hà Nội
19-22,2
23
Đại học Công đoàn
20,85-25,85 (đại trà)
32 (chương trình định hướng chuyên sâu nghề nghiệp quốc tế)
24
Học viện Chính sách và Phát triển
28 (chương trình chuẩn)
35-40 (chất lượng cao)
35 (định hướng nghề nghiệp quốc tế)
25
Đại học Phenikaa (Hà Nội)
28-128
26
Đại học FPT
46,44-94,8 (học tại Hà Nội, TP HCM)
32,52-66,36 (Đà Nẵng, Cần Thơ)
23,22-47,4 (Quy Nhơn)
27
Đại học Thăng Long (Hà Nội)
35,1-54
28
Đại học CMC (Hà Nội)
37,4-44,23
29
Đại học Đại Nam (Hà Nội)
35,7-99
30
Đại học Thành Đô (Hà Nội)
24-52,5
31
Đại học Đông Đô (Hà Nội)
17,49-29,4
32
Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương (Hải Phòng)
29,26-47,89
33
Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên
18-21,9 (hệ đại trà)
28,9 (chương trình tiên tiến)
34
Trường Đại học Luật, Đại học Huế
18
35
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
17,9-26,03
36
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng
27,7-38
37
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
24,8-26,7
38
Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt – Hàn, Đại học Đà Nẵng
17,9-20,9
39
Trường Đại học Quy Nhơn (Gia Lai)
20,75-25 (chương trình đại trà)
40
Đại học Phan Châu Trinh (Đà Nẵng)
24-93,5
41
Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP HCM
35,8 (chương trình dạy bằng tiếng Việt)
55 (Co-op tiếng Anh bán phần)
73,5 (dạy học bằng tiếng Anh)
42
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP HCM
24,78-30,85
43
Đại học Y Dược TP HCM
30-90
44
Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
47-81
45
Đại học Sài Gòn
21-53
46
Đại học Tôn Đức Thắng
31,26-68,46 (chương trình chuẩn)
55,6-64 (tiên tiến)
78-88 (học bằng tiếng Anh)
75-83 (liên kết quốc tế)
20,5-24 (phân hiệu Khánh Hòa)
47
Đại học Văn hóa TP HCM
19,91
48
Đại học Kinh tế – Tài chính TP HCM
80-88 (bao gồm 6 cấp độ tiếng Anh)
49
Đại học Ngoại ngữ – Tin học TP HCM
42
50
Đại học Việt – Đức (Bình Dương)
43,7-46,6
51
Đại học Thủ Dầu Một (TP HCM)
25,65-31,35
52
Đại học Tân Tạo (Tây Ninh)
25-150
Lưu ý:
– Với các trường công bố mức thu theo tín chỉ, học phí trung bình năm được ước tính như sau: [giá tín chỉ x tổng số tín chỉ của chương trình]/số năm học.
– Với nhóm công bố học phí theo kỳ, học phí năm học 2026-2027 được ước tính theo số kỳ trong năm đầu đại học.
– Với các trường công bố học phí cả khóa, học phí một năm được ước tính bằng cách chia trung bình cho số năm học.
– Học phí các trường thường chưa bao gồm các tín chỉ Giáo dục Quốc phòng – An ninh, Giáo dục thể chất hoặc tiếng Anh.
Học phí đại học ba năm qua đều tăng, một phần do trần học phí tăng theo Nghị định số 97 (năm 2023) của Chính phủ.
Theo đó, mức cao nhất được thu ở các đại học công lập chưa tự đảm bảo chi thường xuyên năm học 2026-2027 là 1,71 – 3,5 triệu đồng mỗi tháng, cao hơn khoảng 11% so với năm học trước.
Ở các trường đã tự đảm bảo chi thường xuyên (tự chủ), học phí có thể gấp 2,5 lần mức trần. Với chương trình đã được kiểm định, các trường tự xác định học phí.
Đây không chỉ là thay đổi cách thi, mà còn là thay đổi cách nhìn: ngoại ngữ không còn để lấy điểm, mà là năng lực thiết yếu cho giao tiếp, học tập, làm việc và hội nhập.
Trước hết, cần nhìn lại vai trò của ngoại ngữ trong bối cảnh mới. Khi tiếng Anh được định hướng là ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, ngoại ngữ không còn là môn học riêng lẻ mà trở thành công cụ học tập. Học sinh không chỉ học để thi mà dùng ngoại ngữ để tiếp cận tri thức, học liệu và tham gia môi trường học tập toàn cầu.
Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ. Dù AI có thể dịch, viết hay hỗ trợ học tập, người học vẫn cần đủ năng lực ngoại ngữ để hiểu đúng, kiểm chứng và làm chủ công cụ. Nếu thiếu nền tảng này, dễ rơi vào phụ thuộc, học thụ động, thậm chí lạm dụng AI trong kiểm tra.
Vì vậy, trong kỷ nguyên số, ngoại ngữ không mất đi vai trò mà trở thành năng lực cốt lõi, giúp con người giao tiếp, hợp tác và sáng tạo trong môi trường toàn cầu.
Phân tích điểm thi ngoại ngữ giai đoạn 2021–2025 cho thấy 2 giai đoạn rõ rệt.
Giai đoạn 2021–2024, khi ngoại ngữ là môn bắt buộc, điểm thi phản ánh khá đầy đủ mặt bằng năng lực học sinh, nên việc so sánh giữa các địa phương tương đối ổn định. TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thường dẫn đầu; Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng thuộc nhóm khá; Hậu Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam ở nhóm thấp. Điểm trung bình 12 địa phương đạt 5,71, cao hơn mức chung cả nước 5,22, cho thấy khác biệt rõ về điều kiện và chất lượng giáo dục.
Năm 2025 tạo ra "điểm gãy" khi ngoại ngữ trở thành môn tự chọn. Dữ liệu khi đó chỉ phản ánh nhóm học sinh dự thi, không còn đại diện toàn bộ. Hệ quả là thứ hạng biến động mạnh: Hải Dương, Cần Thơ tăng hạng, trong khi nhiều địa phương giảm sâu như Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Huế. Những biến động này chủ yếu do thay đổi tỷ lệ dự thi, không phản ánh đúng chất lượng thực.
Sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Bộ GD-ĐT thực hiện đối sánh điểm thi với 2 hệ thống khác nhau: với 63 tỉnh, thành phố (cũ) và 34 địa phương mới sau sáp nhập 1.7.2025.
Kết quả điểm trung bình điểm thi ngoại ngữ của 6 thành phố trực thuộc trung ương như sau: Hà Nội xếp thứ nhất cả nước và Cần Thơ xếp thứ 23/34.
Đây chỉ là cách nhìn dựa trên điểm thi, còn thực chất chất lượng ngoại ngữ, cần thêm chỉ số độ phủ ngoại ngữ (tỷ lệ phần trăm học sinh thi ngoại ngữ). Tuy nhiên, đây cũng là chỉ báo ban đầu cho biết điểm thi ngoại ngữ của bộ phận học sinh dự thi môn này của 6 thành phố trực thuộc trung ương sau sáp nhập.
Từ thực tế trên, có thể khẳng định: điểm thi không còn là thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng ngoại ngữ. Đây là xu hướng chung khi giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, đòi hỏi một hệ thống đối sánh mới.
Trước hết, cần tách bạch hai giai đoạn dữ liệu: giai đoạn 2021–2024 dùng để đánh giá hệ thống; từ 2025, điểm thi chỉ mang tính tham khảo, không thể xếp hạng tổng thể.
Tiếp theo, cần chuyển trọng tâm từ điểm số sang mức độ phổ cập năng lực. Câu hỏi quan trọng không phải là "điểm bao nhiêu" mà là "bao nhiêu học sinh sử dụng được ngoại ngữ". Các chuẩn như A2, B1 cần trở thành thước đo chính.
Đồng thời, cần tổ chức các đánh giá diện rộng độc lập trên mẫu đại diện, đo đủ 4 kỹ năng để so sánh khách quan giữa các địa phương. Việc đối sánh cũng nên theo nhóm địa phương có điều kiện và tỷ lệ dự thi tương đồng, thay vì so sánh chung.
Cuối cùng, cần gắn kết quả đầu ra với điều kiện dạy học và môi trường sử dụng ngoại ngữ, tránh đánh giá phiến diện chỉ dựa vào điểm số.
Khi vai trò thay đổi, cách dạy và học ngoại ngữ cũng phải đổi mới. Lâu nay, việc dạy học ngoại ngữ vẫn nặng về ngữ pháp, từ vựng và luyện thi – phù hợp với mục tiêu điểm số nhưng không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ "truyền thụ kiến thức" sang "phát triển năng lực". Học sinh phải được rèn đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong tình huống thực, biết tư duy, giải quyết vấn đề bằng ngoại ngữ.
Điều này đòi hỏi mở rộng môi trường học tập: từ lớp học sang câu lạc bộ, dự án, hoạt động trải nghiệm, không gian song ngữ… Ngoại ngữ cần trở thành một phần tự nhiên của đời sống học đường. Đồng thời, AI phải được tích hợp như công cụ học tập: học sinh không chỉ dùng để dịch hay viết mà còn biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm.
Khi cách dạy thay đổi, kiểm tra – đánh giá cũng phải đổi theo. Các bài kiểm tra viết truyền thống dần mất khả năng phân loại, cần chuyển sang đánh giá năng lực thực tế như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, dự án; kết hợp đánh giá quá trình và hồ sơ học tập.
Việc ngoại ngữ trở thành môn thi tự chọn từ năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, giúp giảm áp lực và thúc đẩy dạy học theo năng lực. Tuy nhiên, cũng có nguy cơ học sinh giảm đầu tư, nhất là ở vùng khó khăn. Đồng thời, dữ liệu điểm thi có thể bị "lệch" do tỷ lệ dự thi khác nhau, khiến việc so sánh giữa các địa phương kém chính xác.
Sự thay đổi của kỳ thi đã cho thấy rõ: cách đo cũ không còn phù hợp với mục tiêu mới. Khi ngoại ngữ trở thành năng lực nền tảng trong kỷ nguyên số, việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào điểm thi là chưa đủ. Đã đến lúc chuyển từ "đối sánh điểm thi" sang "đối sánh năng lực thực", từ "xếp hạng" sang "cải thiện chất lượng".
Cần xây dựng một chỉ số đối sánh mới, phản ánh đồng thời hai yếu tố: mức độ phổ cập và chất lượng học tập. Một hướng khả thi là chỉ số ngoại ngữ tổng hợp cấp địa phương, dựa trên tỷ lệ học sinh dự thi (độ phủ) và điểm trung bình (chất lượng). Công thức đơn giản có thể là:
Thực tế năm 2025 cho thấy TP.HCM có khoảng 97.940 thí sinh, trong đó 49.328 em chọn thi ngoại ngữ, đạt tỷ lệ 50,37% (cao hơn mức chung 30,2%). Với điểm trung bình 5,69, chỉ số ngoại ngữ đạt 28,68. Hà Nội có 124.072 thí sinh, 62.203 em dự thi, tỷ lệ khoảng 50,1%, điểm trung bình 5,78, tương ứng chỉ số ngoại ngữ là 28,98. Điều này cho thấy hai đô thị lớn vẫn duy trì độ phủ ngoại ngữ cao, không chỉ là "mũi nhọn". Như vậy, chỉ số ngoại ngữ của Hà Nội cao hơn TPHCM.
Ưu điểm của cách tính này là không cho phép "đánh đổi" giữa số lượng và chất lượng. Địa phương điểm cao nhưng ít học sinh dự thi sẽ không thể dẫn đầu; ngược lại, nơi có tỷ lệ dự thi cao nhưng điểm thấp cũng khó đạt thứ hạng tốt. Muốn cải thiện, buộc phải nâng cả hai yếu tố.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu mới: ngoại ngữ không chỉ là thế mạnh của một nhóm nhỏ mà cần trở thành năng lực phổ biến. Để tăng độ tin cậy, nên công bố đồng thời ba chỉ số: điểm trung bình, tỷ lệ dự thi và chỉ số tổng hợp, qua đó giúp nhận diện rõ điểm mạnh – yếu của từng địa phương.
TS Nguyễn Quang Thuận, Phó hiệu trưởng trường Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU-IS) đưa ra lời khuyên này, bên lề Tuần lễ kết nối việc làm của trường, ngày 4/4.
Ông Thuận cho biết hiện có hai vấn đề về việc làm cần lưu ý với sinh viên. Một là nhiều em đi làm sớm, có thu nhập đều nên lơ là việc học, dẫn đến hổng kiến thức nền tảng. Nhóm này thường khó đẩy kiến thức, kỹ năng lên cao để có công việc tốt hơn. Ông đánh giá như vậy, sinh viên không thể đi đường dài.
Hai là, ông cho rằng sinh viên nên mạnh dạn chấp nhận làm việc ở một số vị trí có tính thử thách, dù thu nhập chưa cao.
"Đó là những vị trí giúp các em học hỏi được nhiều, dần trở thành người làm chủ hay những người không thể thay thế trong doanh nghiệp. Khi đó, thu nhập tất yếu sẽ cao", ông Thuận nói. "Hãy coi đó là bài toán đầu tư".
Tại Tuần lễ kết nối việc làm của trường Quốc tế, chuyên gia cho biết hiện các doanh nghiệp giảm tuyển vị trí thực tập sinh, sinh viên mới ra trường (fresher). Thay vào đó, ứng viên có kinh nghiệm được ưu tiên.
Khảo sát của nền tảng công nghệ tuyển dụng JobOKO năm 2025 cũng cho thấy điều này khi nhu cầu tuyển vị trí fresher của các doanh nghiệp trong 10 tháng đầu năm 2025 giảm 12,96% so với cùng kỳ năm trước đó. Ở một số nhóm ngành như Hành chính - Nhân sự, Kế toán, Tài chính - Ngân hàng, mức sụt giảm mạnh hơn (34-54%).
Trước thực tế trên, ngoài việc không nên kén chọn công việc lương cao ngay sau khi ra trường, một số chuyên gia cho rằng sinh viên cần trang bị thêm nhiều kỹ năng, đặc biệt là AI.
Ông Nguyễn Đức Long, Giám đốc điều hành Học viện AIUNI, nhìn nhận sinh viên hiện chủ yếu "chơi với AI", chỉ sử dụng AI để hỏi đáp đơn giản, chứ chưa thực sự có kỹ năng sử dụng.
"AI không thay thế nhưng đang định nghĩa lại công việc của chúng ta. Những việc làm phổ thông mang tính lặp đi lặp lại sẽ bị thay thế", ông Long nói. "Vì vậy, sinh viên cần làm chủ các công cụ AI, chuẩn bị sẵn các kỹ năng doanh nghiệp cần ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường".
Nói thêm, ông Nguyễn Quang Thuận khuyên sinh viên nâng cao khả năng ngoại ngữ, sự chủ động và các kiến thức, kỹ năng mang tính liên ngành.
Thực tế tại trường Quốc tế, sinh viên có ngoại ngữ tốt nhờ chương trình đào tạo hầu hết bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, những em ở ngành Phân tích dữ liệu kinh doanh có thu nhập tốt hơn cả, có em xuất sắc nhận mức 3.000-5.000 USD (80-130 triệu đồng). Lý do đây là ngành học có tính liên ngành, sinh viên được học cả kiến thức về công nghệ thông tin lẫn kinh doanh, tài chính.
Ông Thuận cho rằng doanh nghiệp thiếu nhân sự như vậy nên sinh viên hiểu biết liên ngành có lợi thế, giúp rút ngắn thời gian "đào tạo lại" khi mới được tuyển dụng. Ngoài ra, sinh viên cần hiểu biết về công việc ở doanh nghiệp, tận dụng các chương trình liên kết của trường.
Ông Trần Phi Long, Giám đốc Vườn ươm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, gợi ý sinh viên nghĩ tới khởi nghiệp để tích lũy kinh nghiệm, trong bối cảnh nhà nước, các đơn vị tăng cường hỗ trợ hoạt động này.
"Sinh viên có thể nghĩ tới việc kinh doanh nhỏ trước. Nếu có thất bại, các bạn cũng có kinh nghiệm cho các việc làm về sau", ông Long nói.
Hôm nay 4.6, Bộ GD-ĐT đã đăng tải để lấy ý kiến góp ý dự thảo nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của đại học quốc gia. Dự thảo nghị định nếu được thông qua sẽ chính thức thay thế Nghị định số 201/2025/NĐ-CP ngày 11.7.2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của đại học quốc gia.
Về cơ bản, dự thảo nghị định có nội dung tương đồng với Nghị định số 201, chỉ có 2 nét khác biệt lớn là bỏ thiết chế hội đồng đại học và làm rõ thẩm quyền bổ nhiệm nhân sự lãnh đạo của đại học quốc gia.
Cụ thể, dự thảo nghị định mới lược bỏ hoàn toàn các quy định liên quan đến "hội đồng đại học quốc gia". Các nội dung về việc báo cáo bổ nhiệm, miễn nhiệm chủ tịch hội đồng đại học quốc gia, hay việc trình Bộ GD-ĐT công nhận, bổ sung, thay thế thành viên hội đồng đều đã được rút khỏi dự thảo.
Theo Bộ GD-ĐT, nguyên nhân của sự thay đổi này xuất phát từ khoản 1 Điều 15 luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 quy định: trong cơ cấu tổ chức của các cơ sở giáo dục đại học công lập sẽ không còn hội đồng đại học và hội đồng trường.
Đặc biệt, dự thảo nghị định mới tách bạch thẩm quyền bổ nhiệm giám đốc và phó giám đốc đại học quốc gia. Theo Nghị định 201, Bộ GD-ĐT trình Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm cả giám đốc và phó giám đốc. Còn dự thảo mới đã phân định rõ ràng thẩm quyền đối với từng chức danh.
Đối với chức danh giám đốc đại học quốc gia, đại học quốc gia sẽ báo cáo Bộ GD-ĐT, Bộ GD-ĐT trình Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cho thôi giữ chức vụ, điều động, thuyên chuyển. Còn đối với chức danh phó giám đốc đại học quốc gia, đại học quốc gia sẽ cáo Bộ GD-ĐT, sau đó Bộ GD-ĐT xem xét, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động chức danh này.
Theo Bộ GD-ĐT, có sự phân cấp này là để tuân thủ nghiêm ngặt khoản 3 Điều 16 luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15.
Ngoài ra, dự thảo nghị định mới cũng có một số thay đổi nhằm chuẩn hóa các thuật ngữ quản lý tài chính, tài sản. Ví dụ, cụm từ chung chung "đơn vị thành viên" trong các quy định về phân bổ ngân sách, phê duyệt phương án tự chủ tài chính hay phục vụ công tác thanh kiểm tra ở Nghị định 201 đã được thay thế chính xác bằng "trường đại học thành viên, viện nghiên cứu thành viên".